Một số Di tích lịch sử văn hoá tỉnh Vĩnh Long
Văn Thánh Miếu Vĩnh Long  | Khu Tưởng Niệm Đồng Chí Phạm Hùng  | Khu Di tích Cách mạng Cái Ngang  | Chùa cổ Long An  | Chùa Gò Xoài  | Di Chỉ Khảo Cổ Học Thành Mới  | Nghĩa Trủng Miếu  | Cây Đa Cửa Hữu  | Mộ Nhà Thơ Nhiêu Tâm  | Miếu Quan Tiền Hiền Phan Công An  | Đình Làng Thiện Mỹ  | Đình Long Hồ  | Đình Bình Phụng  | Đình Bình Phước  | Đình Hậu Thạnh | Đình Kỳ H | Đình Hoà Ninh  | Chùa Bồ Đề  | Chùa Long Khánh  | Chùa Toà Sen  | Chùa Hạnh Phúc Tăng (SANGHAMANGALA)  | Minh Hương Hội Quán  | Thánh Tịnh Ngọc Sơn Quang  | Miếu Công Thần Vĩnh Long  | Đình Tân Ho | Lăng ông Tiền Quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn V Tồn | Thất Phủ Miếu  | Chùa Phước Hậu | Chùa Tiên Châu  | Đình Long Thanh Show as multiple pages
Nguyên vào năm Tự Đức thứ 14 (1862) ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ lần lượt lọt vào tay thực dân Pháp xâm lược. Lúc bấy giờ tỉnh Vĩnh Long cũng đã lọt vào tay quân viễn chinh Pháp nhưng theo hòa ước Nhâm Tuất (1862) thì Pháp phải trả tỉnh Vĩnh Long lại cho triều đình Huế. Do đó, sĩ phu ở các tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường đã rầm rộ “tỵ địa” về Vĩnh Long. Quan đốc học Vĩnh Long là Nguyễn Thông đã chọn nơi rộng rãi gần tỉnh thành Vĩnh Long để tập hợp họ lại tổ chức ôn tập chờ ngày thi cử. Mặc dù đang sống trong cảnh dầu sôi lửa bỏng nhưng giới sĩ phu thời bấy giờ đã gấp rút xây dựng một Văn Thánh Miếu bên cạnh nơi họ ôn tập. Tuy danh nghĩa là đề cao Nho giáo nhưng thực chất là xây dựng một tụ điểm hoạt động văn hóa đề cao các bậc tiền hiền và giáo dục lòng yêu nước. Công trình này khởi công từ mùa đông năm Giáp Tý (1864) và hoàn thành vào mùa thu năm Bính Dần (1866) .
Sau khi hoàn thành, giới quan lại sĩ phu đã thành lập hội Văn Thánh Miếu để trông nom việc cúng tế. Hội cũng tạo được ruộng đất hương quả và xin cấp miếu phu quét dọn hàng ngày. Thế nhưng chỉ có mấy tháng sau thì quân viễn chinh Pháp lại đem chiến thuyền uy hiếp và chiếm thành Vĩnh Long lần thứ hai. Phan Thanh Giản tuẩn tiết, Nguyễn Thông “tỵ địa” ra Bình Thuận.

Sau khi chiếm Vĩnh Long, bọn thực dân Pháp lấy cớ thiếu gỗ xây dựng dinh tham biện (dinh tỉnh trưởng) định phá Văn Thánh Miếu. Lúc đó ông Bá hộ Trương Ngọc Lang ( tức Bá hộ Non - người Minh Hương) được đồng bào đề cử đứng ra tranh thủ với quân viễn chinh giữ lại công trình văn hóa này. RồI từ đó đến nay, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được trùng tu, tôn tạo các công trình phụ vào các năm 1872, 1903, 1914, 1933, 1963, 1994 và gần đây nhất là năm là tháng 6/ 2006.

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long ở tại làng Long Hồ, tổng Long An, huyện Vĩnh Bình, nay thuộc phường tư thị xã Vĩnh Long. Tuy đã trãi qua các lần trùng tu và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử nhưng vẫn giữ được nét cổ kính.

Sát đường là cổng tam quan xây theo lốI cổ lâu có ba tầng mái. Chiếc cổng này đơn giản nhưng mỹ thuật, có nét đặc biệt so với những chiếc cổng khác. Sau cổng là thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Hai bên là hai hàng sao cao vút như hai hàng lính áp hầu. Phía trước chính diện, giữa thần đạo là ba tấm bia đá. Đáng kể nhất là tấm bia do Phan Thanh Giản viết trước khi tuẩn tiết, Trương Ngọc Lang lập năm 1872. Tấm bia thứ nhì kỷ niệm ông Tống Hữu Định và giới trí thức trùng tu tái thiết ngôi miếu năm 1903. Tấm bia thứ ba ca ngợi tấm lòng hảo tâm của bà Trương Thị Loan (con gái của Trương Ngọc Lang) hiến đất làm hoa lợi hương hỏa. Hai tấm bia sau do Nguyễn Liên Phong viết vào thập niên đầu của thế kỷ này.
Trước kia, khuôn viên có hai cái ao trồng sen có tên là hồ Nhật Tinh và hồ Nguyệt Anh. Trong văn bia do Phan Thanh Giản viết có nói đến “Thơ Lầu” (lầu sách) ở bên tả Văn Thánh Miếu (từ trong nhìn ra ). Do đó,sau khi Phan Thanh Giản tuẩn tiết, các con của Phan Thanh Giản vào bưng biền kháng chiến chống giặc; những người Minh Hương, đứng đầu là bá hộ Trương Ngọc Lang đã lập sổ quyên tiền xây dựng một “Tân Đình” (1869) phía tả Văn Thánh Miếu để thờ Phan Thanh Giản. Năm 1872 công trình này hoàn thành, Trương Ngọc Lang dựng bia đặt tên là Tụy Văn Lâu (lầu nhóm họp giới văn nhân tài tử). Tụy Văn Lâu được trùng tu năm 1914 và khoảng năm 1920 – 1923 được đổi tên là Văn Xương Các ( gác Văn Xương).
Văn Xương Các làm theo kiểu trùng thềm điệp ốc. Trên gác là nơi cất sách và thờ Văn Xương Đế Quân - vị tinh quân chủ quản việc thi cử học hành. Bài vị Văn Xương Đế Quân đặt trong khám thờ, chạm trỗ sơn thếp đẹp đẽ.
Nhưng tầng dưới Văn Xương Các mới là nơi quan trọng nhất. Gian giữa là nơi văn nhân thi ngồi đàm đạo. Phía sau là khánh thờ Gia Định Sử sỉ Sùng Đức Tiên sinh Võ Trường Toản và Khâm sai Kinh lược sứ Phan Thanh Giản.
Khánh thờ này chạm trỗ tinh vi, trong đặt hai bài vị, có câu đối ca tụng hai kẻ sĩ đứng đầu đất Gia Định.
            Hoàng phong “Sử sĩ” thanh cao lão.
            Tự hiệu “ thư sinh” tiết liệt thần
            (Vua phong “Sử sĩ” thanh cao lão
            Tự hiệu “ thư sinh” tiết liệt thần)
Đến khoảng năm 1933, Phan Thanh Giản được nhà Nguyễn phong thần. Từ đó tại khám thờ này có thêm một hòm sắc và một bức chân dung Phan Thanh Giản rất sống động, do hoạ sĩ Philippe Trần vẽ. Một số nhà hảo tâm đã hiến thêm nhiều câu đối ca tụng Phan Thanh Giản. Do đó, vị trí Võ Trường Toản đã bị lu mờ.
Bên tả khánh thờ chính là khánh thờ các quan đại thần có công khởI xướng xây dựng Văn Thánh Miếu:
            - Tổng đốc Vĩnh Long Trương Văn Uyển.
            - Bố chánh Vĩnh Long Nguyễn Văn Nhã.
            - Án sát Vĩnh Long Võ Doãn Thanh.
            - Bố chánh Quảng Ngãi Nguyễn Thông (nguyên đốc học Vĩnh Long).
Gian bên hữu thờ các đại thần:
            - Tuần phủ Hà Tiên Lê Quang Nguyên .
            - Án sát Hà Tiên Nguyễn Toán.
            - Án sát An Giang Phạm Hữu Chánh
            - Tri phủ Định Viễn Lê Văn Khiêm
            - Tri phủ Định Viễn Nguyễn Tống Minh
            - Giáo thọ Hoằng tự Nguyễn Tu Mẫn.
            - Tổng đốc Thuận Khánh Nguyễn Mục Như (Nguyễn Văn Phong)
            - Bá hộ Trương Trọng Tiên (Trương Ngọc Lang)
Nguyễn Mục Như người Vĩnh Long, là cha chồng bà Trương Thị Loan. Hai ông Trương Ngọc Lang và Nguyễn Văn Phong được thờ tại Văn Thánh Miếu là do bà Trương Thị Loan gửi hậu. Riêng Trương Ngọc Lang là người có công lớn trong việc trùng tu và bảo vệ Văn Thánh Miếu.
Khu vực chính của Văn Thánh Miếu gồm Đại Thành Điện và hai ngôi miếu ở trước sân đâu mặt nhau gọi là Tả vu và Hữu vu. Khu vực này có tường hoa bao bọc, chỉ có thể ra vào bằng cửa Kim Thanh và Ngọc Chấn. Chính điện làm theo kiểu trùng thềm điệp ốc. Bên trong bài trí đơn giản, giữa khánh thờ bài vị “ Đại Thành Chí ThánhTiên sư Khổng Phu Tử” và bài vị bốn vị đứng vào hàng đệ tử của ngài gọi là “Tứ Phối”. Sau này, khi họa sĩ Philippine Trần vẽ chân dung Phan Thanh Giản có vẽ chân dung bán thân của Khổng Tử. Bức chân dung này thay thế bức tranh cũ. Cũng trong chính điện hai bên Tả ban và Hữu ban là khánh thờ “Thập nhị hiền triết”; Còn hai bên nhà Tả hữu - Hữu vu thờ “Thất thập nhị hiền”, mỗI bên ba mươi sáu vị. Đồ tự khí trong ba khu vực thờ phượng này tuy có chạm trỗ, sơn thếp nhưng mỹ thuật đơn giản. Đồ tự khí bằng gỗ, sành sứ, đồng thau.
Trong Văn Miếu có rất nhiều hoành phi, câu đối do các nhà hảo tâm ở khắp nơi hiến cúng. Trong đó có câu đối của Thượng thư Cao Xuân Dục cúng năm 1913 khi ông đến Vĩnh Long:
            Xuân thu hà đẳng càn khôn, đạo tại Ngũ Kinh song nhật nguyệt.
            Thù Tứ biệt thành vũ trụ, đồ qua Lục Tỉnh nhất cung tường .
            Tạm dịch:
            ( Xuân thu trờI đất bậc nào, đạo tại năm kinh đôi nhật nguyệt.
            Thù Tứ cõi bờ riêng đó, đường qua sáu tỉnh một cung tường).
            MỗI năm tại Văn Thánh Miếu có các ngày lễ lớn:
Tế Khổng Tử và các vị Thánh Hiền vào ngày Xuân Đinh và Thu Đinh (ngày Đinh đầu tháng hai và ngày Đinh cuốI tháng tám).
Tại Văn Xương Các có lễ giỗ Phan Thanh Giản (mùng bốn và mùng năm tháng bảy), ngày giỗ các quan đại thần và cúng âm lịch (ngày 12 và 13 tháng mười).
Nếu so sánh lễ hội với các đình miếu khác ở Vĩnh Long thì lễ hội tại Văn Thánh Miếu thu hút khách hành hương chưa đông nhưng khách đến đây đều với tấm lòng nhiệt thành với văn hóa và yêu kính các bậc tiền nhân.

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia vào ngày 25 tháng 3 năm 1991 (Quyết định số 0557 QĐ ngày 25/3/1991).


Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng được khởi công xây dựng ngày 02 tháng 10 năm 2000 và khánh thành ngày 11 tháng 06 năm 2004 nhân dịp 92 nămngày sinh của Ông.Khu tưởng niệm được xây dựng tại ấp Long Thuận A – xã Long Phước - Huyện Long Hồ.

 

 

Sinh ra và lớn lên từ gia đình trung nông, có truyền thống gia giáo, thời niên thiếu của Ông gắn liền với một bối cảnh lịch sử đầy những bất công, khổ cực của nhũng người dân thuộc địa. Trải qua bậc tiểu học tại trường Internate – Primaire (Vĩnh Long) và bậc trung học tại trường Collège De My Tho (tỉnh Mỹ Tho)…và trường học cũng là nơi mở đầu cho những trang sử hoạt động cách mạng của thời thanh niên Phạm Văn Thiện: tham gia vào các tổ chức cách mạng trong những năm đầu thế kỷ XX: Nam kỳ học sinh liên hiệp hội, Thanh niên cộng sản đoàn, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930, từng là Bí thư chi bộ trường, hoạt động qua các cấp chi ủy xã, huyện, tỉnh ở Mỹ Tho. Sau việc tham gia trong sự kiện biểu tình và xử tội tên hương quản gian ác Đặng Văn Trâu tại xã Tam Hiệp - huyện Châu Thành - tỉnh Mỹ Tho nhân dịp kỉ niệm ngày quốc tế lao động 1 tháng 5 năm 1931, Ông bị bắt và bị giải đi qua các nhà tù: từ nhà tù Mỹ Tho, xà lim án chém Sài Gòn “vụ án Đảng cộng sản Đông Dương” năm1933: với hai án tử hình, sau nhờ phong trào đấu tranh dân chủ trong nước và nhân dân các nước tiến bộ, ông được giảm xuống thành án chung thân khổ sai và đày đi Côn Đảo…Mười một năm sống tại “địa ngục trần gian” với bao câu chuyện kể về người tù nhân mang bí danh: Anh Hai Hùng …ngày 23 tháng 8 năm 1945, sau cách mạng tháng Tám thành công ông được Đảng và chính phủ ta đón về đất liền và tiếp tục cuộc đời cách mạng: tham gia trong hai cuộc kháng chiến đánh Pháp - đuổi Mỹ với những trọng trách: Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, Giám đốc ty Công an Nam bộ, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh …Ông đã góp phần to lớn vào sự thắng lợi trong công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc. Bước vào đầu ngày giải phóng miền Nam, trai qua những năm tháng hàn gắn vết thương chiến tranh, cải tạo xã hội miền Nam, xây dựng miền Bắc cho đến những năm tháng khởi đầu cho sự nghiệp đổi mới đất nước … Từ Bắc đến Nam, trong nhiều lãnh vực, với những trọng trách: Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam…đồng chí Phạm Hùng đã tận tâm tận lựcc ống hiến đến cuối cuộc đời mình dể lo cho dân, cho nuớc.

Ngày 9 tháng 3 năm 1988, đồng chí Phạm Hùng đã vĩnh biệt chúng ta trong lúc đang công tác tại thành phố Hồ Chí Minh.

Cuộc đời và tấm gương của một nhà lãnh đạo trung kiên - mẫu mực Phạm Hùng đã được đất nước, quê hương và nhân dân muôn đời tưởng nhớ như bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại buổi lễ truy điệu đồng chí Phạm Hùng: “Công lao của đồng chí Phạm Hùng đối với sự nghiệp nước ta rất to lớn. Cuộc đời hoạt động sôi nổi va phong phú của đồng chí là một tấm gương sáng đối với mọi người cộng sản và mọi người Việt Nam ta. Đồng chí không còn nữa, nhưng hình ảnh đồng chí sống mãi trong trái tim chúng ta…”
Để tưởng nhớ công lao của một người con ưu tú của dân tộc, của quê hương, Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long dã cho xây dựng khu tưởng niệm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng - một công trình của trái tim - để giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng với tổng diện tích: 3,2 ha, gồm các hạng mục chính :
            - Nhà lễ tân: diện tích 300m2, là nơi đón tiếp khách đến tham quan khu tưởng niệm.
            - Nhà tưởng niệm: diện tích 1.050m2, là nơi thắp hương tưởng niệm Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.
            - Nhà trưng bày: diện tích 670m2, là nơi trưng bày hình ành – tư liệu - hiện vật chuyên đề: thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng.
            Ngoài ra, còn có ba hạng mục ngoài trời được phục chế theo tỷ lệ 1/1 gổm: phòng biệt giam đồng chí Phạm Hùng tại Côn Đảo từ 1934 đến 1945, ngôi nhà làm việc của đồng chí Phạm Hùng tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam (tỉnh Tây Ninh) từ 1967 đến 30 tháng 4 năm 1975 và căn phòng làm việc của đồng chí Phạm Hùng tại số 72 Phan Đình Phùng – Hà Nội từ năm 1958 đến năm 1967 và từ năm 1978 đến năm 1988.
                                    Với một khuôn viên rộng, một bố cục tổng thể cân đối, hài hòa và một cấu trúc nghệ thuật đơn giản nhưng trang nghiêm, thanh thoát hài hòa với cảnh quang thiên nhiên. Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng xứng đáng với tầm cỡ một công trình lịch sử văn hóa: “Đẹp về hình thức, tốt về nội dung…” - như lời của đồng chí Trương Mỹ Hoa – Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nhân chuyến về thăm Vĩnh Long ngày 27 tháng 7 năm 2004.

Trong hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Vĩnh Long trở thành chiến trường ác liệt vào bậc nhất ở ĐBSCL. Xuất phát từ vị trí xung yếu của Vĩnh Long, kẻ địch luôn dồn sức mạnh nhằm khống chế bằng được địa bàn này.Về phía ta, quân dân Vĩnh Long dưới sự lãnh đạo của Đảng kiên trì bám trụ, giành giật với địch từng tấc đất quê hương. Vì Vĩnh Long địa hình trống trãi, không rừng, không núi, sông rạch chằng chịt nên vấn đề bám trụ địa bàn hoạt động là vấn đề sinh tử đối với cách mạng tỉnh nhà.

Trong hoàn ảnh lịch sử ấy, Tỉnh ủy Vĩnh Long - cơ quan đầu não lãnh đạo toàn diện cuộc kháng chiến của toàn tỉnh vẫn tồn tạI để hoàn thành sứ mệnh lịch sử giao phó. Vượt lên bao khó khăn thử thách Tỉnh Uỷ Vĩnh Long tồn tại chỉ đạo mọi phong trào tỉnh nhà đi đến thắng lợi chính là do Tỉnh Uỷ Vĩnh Long luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng bộ Vĩnh Long dựa hẳn vào dân, động viên sức mạnh to lớn, sức sáng tạo vô biên của nhân dân nhằm vào mục tiêu chiến thắng kẻ thù xâm lược.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Tỉnh Uỷ Vĩnh Long di chuyển liên tục khắp địa bàn Vĩnh Long. Giai đọan từ 1954 đến 1966 Tỉnh Uỷ Vĩnh Long đã di chuyển hơn 29 điểm. 

 Năm 1966 Tỉnh Uỷ Vĩnh Long quyết định chọn Cái Ngang làm khu căn cứ chủ yếu. Năm 1967, Tỉnh uỷ chuyển hẳn về khu căn cứ cách mạng Cái Ngang, thuộc ấp 4 xã Mỹ Lộc - nay ấp 4, xã Phú Lộc, huyện Tam Bình.

Khu di tích cách mạng Cái Ngang là vùng đất liên hoàn nhiều xã của huyện Tam Bình; là vùng căn cứ của Tỉnh Uỷ Vĩnh Long qua nhiều thời kỳ. Đây là nơi nhân dân Vĩnh Long dưới sự lãnh đạo của Tỉnh Uỷ Vĩnh Long đoàn kết chiến đấu, một lòng chăm lo cho sự nghiệp cách mạng. Mặc dù phải đương đầu với kẻ địch đông về số lượng, trang bị hiện đại và có nhiều thủ đoạn thâm độc nhưng quân dân ta vẫn chiến đấu kiên cường và trưởng thành mạnh mẽ.
Cơ quan Tỉnh Uỷ lúc đó chỉ có một nhà làm việc và một điểm nấu ăn. Công trình được xây dựng thấp, nằm gọn dưới các tàng cây để tránh máy bay địch phát hiện. Xung quanh nơi làm việc bố trí đầy đủ các hầm trú ẩn tránh bom pháo. Hệ thống hầm bí mật được Ban căn cứ chuẩn bị chu đáo đủ sức phục vụ Ban chấp hành Tỉnh Uỷ trong các kỳ họp.
Tỉnh Uỷ Vĩnh Long lúc đó có 13 đồng chí, do đồng chí nguyễn Ký Ức làm Bí thư Tỉnh Uỷ.
            Các bộ phận chuyện môn thường trực tại khu căn cứ gồm:
                        -Ban căn cứ.
                        -Đội phòng thủ.
                        -Văn phòng Tỉnh Uỷ.
                        -Điện đài cơ yếu.
                        -Giao liên bán khai.
            Chính tại khu di tích cách mạng qua các thời kỳ kháng chiến Tỉnh Uỷ Vĩnh Long đã đề ra những chủ trương, nghị quyết mệnh lệnh toàn quân, toàn dân chiến đấu và chiến thắng. Trong các chỉ thị, nghị quyết đó nổi bật là lệnh tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
            Việc giữ gìn và phát huy giá trị di tích căn cứ cách mạng Cái Ngang từ lâu đã trở thành nhu cầu bức xúc của Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long. Vì vậy khi Tỉnh ủy Vĩnh Long có chủ trương khôi phục khu di tích cách mạng Cái Ngang đã được sự đồng tình, thống nhất cao của các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân trong tỉnh.
            Ngày 1 tháng 8 năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định số: 2176/QĐ.UB về việc “Phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình trùng tu – tôn tạo Khu di tích căn cứ cách mạng Cái Ngang tỉnh Vĩnh Long”.
            Khu di tích cách mạng Cái Ngang có diện tích 5 ha, chia thành hai phần: phần ruộng lúa và phần vườn cây. Tổng thể di tích cũng gồm hai phần: phần phục dựng, tôn tạo và phần xây dựng mới.
            Phần phục dựng, tôn tạo:
            + bãi lửa
            + cầu chông
            + chốt bảo vệ
            + nhà thường trực năm 1967
            + nhà thường trực 1973
            + hội trường
            + hệ thống trảng xê (hầm trú ẩn)
            + nhà thông tin
            + hệ thống công sự chiến đấu
            + nhà của đội phòng thủ
            + hệ thống hầm bí mật
            + chuổi hố bom.
            Các công trình xây dựng mới:
            + bãi đỗ xe
            + nhà lễ tân
            + nhà truyền thống
            + đường dẫn vào khu di tích
            + nhà dịch vụ.
Trong tình hình đất nước đang hội nhập với thế giới trên tinh thần đa phương hóa, đa dạng hóa vấn đề khôi phục khu di tích cách mạng Cái Ngang tỉnh Vĩnh Long càng trở nên bức thiết. Khi công trình trùng tu, tôn tạo hoàn thành đưa vào phục vụ đây sẽ là nơi thu hút khách tham quan trong tỉnh, ngoài tỉnh và khách nước ngoài.

Di tích căn cứ cách mạng Cái Ngang là nơi khơi gợi nguồn sức mạnh từ lịch sử hào hùng để động viên toàn Đảng toàn quân, toàn dân Vĩnh Long anh hùng cùng cả nước vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ quê hương Vĩnh Long ngày một giàu đẹp, vững bền.

Ngày 9/8/2003 Khu di tích căn cứ kháng chiến Cái Ngang được Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long trọng thể tổ chức khánh thành, đưa vào phục vụ khách tham quan.

Hiện nay di tích đặt dướI sự điều hành hoạt động của Ban quản lý di tích, cán bộ thuyết minh luôn sẵn sàng phục vụ khách tham quan.


 

 Sơ khởi là am nhỏ, ông khai hoang mở đất làm rẫy sinh sống. Đến cuối thế kỷ 19, gia tộc ông Cả Lảm là người mộ đạo, hiến 30 công đất để xây chùa và làm tự điền, hằng năm có hoa màu, lúa thóc phục vụ lễ lạc, xây dựng. Chùa được đặt tên là Long An. Năm 1931 Hòa thượng Thích Khánh Anh đang làm pháp sư tại trường Gia giáo chùa Giác Hoa (Bạc Liêu) được thỉnh về làm trụ trì để hoằng khai đạo pháp. Lúc này tăng đồ và phật tử theo học rất đông. Đến năm 1842 Hòa thượng Khánh Anh về chùa Phước Hậu, các Hòa thượng Thiện Lực, Thiện Trang, Nhựt Liên... lần lượt được trông nom ngôi Tam bảo. Chùa có kiến trúc cổ kính gồm chính điện, hậu liêu, nhà trai trên diện tích khoảng 500m2, nền được cuốn gạch đại cao 0,5m. Tiền điện hướng Đông Bắc nhìn ra QL 54. Bao quanh là khuôn viên rộng thoáng, có cổ thụ sao dầu dương, bờ tre, khóm trúc, cây trái tạo nên cảnh quan đẹp, yên tĩnh. Đến thập niên 1960 chùa do tu sĩ Hồ Văn Lục pháp danh Thích Phước Y chăm sóc. Thời gian này do hoàn cảnh chiến tranh, bom đạn, thiên nhiên tác hại, lại xa khu dân cư, chùa dần dà xuống cấp. Tu sĩ Phước Y thu hẹp chính điện, quay mặt về hướng Đông. Ông vận động phật tử xây nhà Tổ, cổng tam quan, tháp các Tổ, trồng thêm hoa kiểng. Tháng 4 năm 2000 do tuổi cao sức yếu, Ban trị sự Phật Giáo Vĩnh Long điều Đại đức Thích Tuệ Quang là môn đệ của Thượng tọa Thích Thanh Từ về quán xuyến. Chỉ trong thời gian ngắn, chùa đã xây dựng thêm nhà trai, hai thất tịnh, cải bổ lại huê viên, tạo vườn tược quanh chùa đẹp đẽ, trang nhã. Tính từ các Tổ khai sáng mà công dày đạo trọng là Hòa thượng Khánh Anh đến Đại đức Tuệ Quang, ngày nay chùa Long An trải qua bốn, năm đời trụ trì, giám quản và cũng nhiều lần hưng phế... Các di vật xưa còn lại là hai hoành phi: Long An tự, Đại hùng bửu điện, và các câu liễn đối, có câu với nội dung: Phật tức tâm, tâm tức phật tế độ hữu duyên siêu vạn kiếp. Sắc thị không, không thị sắc quang minh vô lượng chiếu thập phương. Tất cả bằng chữ Hán, móc chìm sơn son thếp vàng, tạo tác khoảng 100 năm. Ở nhà Hậu Tổ có bệ thờ có di ảnh cố Hòa thượng Khánh Anh, Thiện Hoa, Thiện Hòa, Nhựt Liên. Quanh sân chùa có tháp trì cốt Hòa thượng Thiện Lực, Thiện Trang... Có lịch sử hình thành lâu đời, chùa Long An còn là điểm dừng chân của các cao tăng nổi tiếng ở Nam bộ: Khánh Anh, Huệ Quang, Khánh Hòa, Pháp Hải... lập nên Liên đoàn Học xã hoằng dương chánh pháp, truyền bá quốc ngữ. Tiếp đến có Thượng tọa Thiện Hòa, Thiện Hoa trở về duy trì chí hướng các Tổ quy tập được tăng đồ, phật tử khá đông. Cũng tại ngôi chùa này ngày 30 tháng Giêng Tân Sửu (16/4/1961) Hòa thượng Thích Khánh Anh viên tịch khi đang đảm nhận trọng trách là Thượng Thủ kiêm Pháp chủ Giáo hội Tăng già toàn quốc. Trong các thời kỳ đấu tranh giành độc lập, khuôn viên chùa là căn cứ địa hoạt động, giao liên của lực lượng cách mạng huyện Trà Ôn. Các tu sĩ giữ chùa hoạt động hợp pháp đóng góp tiền của vật dụng, thuốc men... cho cách mạng.

 Cách trung tâm thị trấn Trà Ôn trên 3km, từ Quốc lộ 54 theo đường nhỏ khoảng 500m, đến chùa cổ Long An. Chùa còn có tên Đồng Đế, tọa lạc tại ấp Mỹ Trung, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn (Vĩnh Long). Theo các cụ cao niên, cách nay gần hai thế kỷ, nơi đây đồng hoang mọc nhiều cây đế dại, dân cư thưa thớt. Thập niên 1860 có vị tu sĩ từ miền Ngũ Quảng vào chọn nơi đây làm chỗ dừng chân tu hành.


Chùa Gò Xoài toạ lạc tại ấp Mỹ Bình, xã Tân Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Chùa Gò Xoài được xây dựng vào năm Phật lịch 2074 (tức năm 1530) trên phần đất ông bà của bà Thạch Thị Lạc (đến năm 1909, bà Thạch Thị Thuông, cháu bà Lạc, hiến thêm 5.000 m2).

Chùa Gò Xoài là trung tâm sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của đồng bào Khmer xã Tân Mỹ. Bên cạnh đó, trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa Gò Xoài còn là một cơ sở cách mạng của xã Tân Mỹ và chùa là một điển hình trong cuộc đấu tranh chống địch đóng đồn trong chùa, chống bắt lính.

Sau khi Mỹ Diệm tiến hành luật 10/59, xã Tân Mỹ trở thành một xã trắng chúng tiến hành dồn dân lập ấp chiến lược để tách dân ra khỏi các mạng.
Để xây dựng lại cơ sở, các cán bộ xã Tân Mỹ xây dựng cơ sở cách mạng trong chùa Gò Xoài. chùa Gò Xoài trở thành cơ sở đáng tin cậy của cách mạng.
Tháng 2 năm 1963, xã trưởng - cảnh sát trưởng xã Tân Mỹ là Phạm Văn Chữ, cho lính vào chùa áp chế Sư cả Thạch Chăng để chúng sử dụng chùa làm đồn bót. Nhưng sư cả Chăng nhất định không đồng ý. Vì vậy, chúng đã gây khó dễ cho nhà chùa trong các dịp lễ hội. Chúng không cho chùa tổ chức các lễ hội với lý do chùa tổ chức lễ hội để cán bộ cách mạng vào chùa. Đồng thời, chúng không cho sư cả mở lớp dạy học cho tăng chúng và phật tử, nhất là các cụ cao niên muốn vào chùa học thiền định. Thời gian này rất khó khăn cho các hoạt động của chùa, nhưng các vị sư vẫn bám trụ tại chùa và giữ không cho địch đóng quân trong khuôn viên chùa.
Sư cả còn làm công tác binh vận, vận động người trong bổn đạo bị bắt đi lính cho địch rã ngũ.
Trong năm 1963, chi bộ xã Tân Mỹ đã tổ chức hai cuộc đấu tranh trực diện với địch tại Trà Ôn. Thành phần tham gia đấu tranh là các vị sư hai chùa Gò Xoài và Gia Kiết cùng bà con Kinh - Khmer, trong đó có cả gia đình binh sĩ. Đoàn đấu tranh yêu cầu địch không được bắn pháo vào xóm làng sát hại nhân dân. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi.
Tháng 4 năm 1967, lính quận Trà Ôn đến thông báo với sư cả: một tuần nữa quận trưởng Trà Ôn sẽ cho lính đến lấy chùa làm đồn bót. Sư cả Thạch Chăng cương quyết không cho địch đóng đồn bót trong chùa và bảo vệ cho các vị tu sĩ.
Năm 1968, chiến tranh ngày càng khốc liệt, sư cả Chăng kêu gọi các gia đình này vào chùa ẩn nấp. Sư cả tận dụng số cây lá sẵn có trong chùa để cất nhà cho phật tử ở và vận động lực lượng thanh niên cùng các vị sư đào hầm và đắp trảng xê ở nhiều nơi (trong sala và một số nơi trong vườn chùa) để nhân dân tránh bom đạn. Sư cả còn gửi thư cho quận trưởng Trà Ôn yêu cầu nhà cầm quyền không được bắn pháo vào trong chùa, vì chùa là nơi tu hành, nơi cầu nguyện đem lại hoà bình cho dân tộc.
Từ năm 1971, nhiều lần địch đem lính đến bao vây chùa bắt chư tăng và thanh niên đi lính. Đứng trước tình hình này, ông Thạch Sol cùng một số sư trong chùa là cơ sở nồng cốt cách mạng và bổn đạo đấu tranh với địch. Chùa vận động chống bắt lính đưa vào chùa tu được 45 thanh niên cả người Kinh và người Khmer, cùng với gia đình binh sĩ vận động rã ngũ 57 binh sĩ. Các sư, phật tử còn làm hàng rào bằng kẽm gai xung quanh chùa và chuẩn bị đá, gạch, cây... để chống lại khi địch đến bao vây chùa để bắt chư tăng, thanh niên đi lính
Năm 1972, để làm ám hiệu cho cán bộ cách mạng trong các dịp lễ - tết, các vị sư làm ám hiệu bằng cách treo bóng đèn điện trên cột cờ: đèn sáng thì không có lính, khi có lính thì tắt đèn.
Sư Thạch Nhứt là y tá chữa trị cho bà con xung quanh chùa. Sư rất có cảm tình với cách mạng. Ông mua thuốc tây gởi cho cách mạng.
Hưởng ứng phong trào chiếm đất giành dân, trong dịp tết Chol Chnam Thmây, ông Lê Văn Sơn, ông Hai Bè và Đại đức Thạch Chăng họp bàn và thống nhất treo cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trước cổng chùa. Sự xuất hiện của cờ Mặt trận gây xôn xao trong nhân dân. Sau đó, lính quận Trà Ôn đến chùa để tra xét tìm cở sở cách mạng. Chúng bắt em Thạch Riêng (con ông Thạch Tích - Trưởng ban quản trị) vì nghi em là giao liên của cách mạng. Do quá sợ hãi, Thạch Riêng đã khai ông Trần Văn Sinh (Ba Sinh) là một người dân ở Giồng Thanh Bạch. Chúng bắt ông Ba Sinh đem giam ở Trà Ôn. Sau đó, chứng minh được ông Ba Sinh là người vô tội nên chúng đã thả ông.
Tháng 12/1972, theo chủ trương của huyện, lực luợng du kích xã Tân Mỹ vào các chùa của xã. Do địch đóng quân dày đặc ở vùng ven, nên du kích không vào được, trong tình thế không có lương thực, cũng không thể rút đi vì địch sẽ phát hiện. Sư cả Thạch Chăng hay tin. Sư cả liền cho 03 vị sư về thăm nhà nhưng thực chất là các sư mang lương thực tiếp tế cho du kích.
Tháng 10 năm 1973, địch bắt khoảng 60 thân nhân gia đình cách mạng giam khoảng 01 tháng ở đồn Tân Mỹ. Chi bộ xã Tân Mỹ họp bàn lấy sách đối sách: mời một số gia đình binh sĩ đến căn cứ Tầm Vu (Tân Mỹ) để tuyên truyền, vận động giác ngộ cách mạng và để đổi gia đình cách mạng về. Chi bộ quyết định đưa tổ đảng về các ấp mời khoảng 100 gia đình binh sĩ, vùng Gò Xoài khoảng 40 người.
Sau đó, các gia đình binh sĩ đã giác ngộ và vận động binh sĩ gởi đạn dược cho cách mạng. Số đạn do các gia đình binh sĩ đóng góp được chuyển cho du kích xã sử dụng chiến đấu và bổ sung đạn dược cho địa phương quân Trà Ôn. Số đạn này được gởi nhiều lần, nhiều nhất là lựu đạn và đạn M79.
Năm 1974, quận trưởng và lính Trà Ôn đến bao vây chùa. Chúng lấy lý do là một số vị sư đã hết hạn hoãn quân dịch, bắt các vị sư hoàn tục đi lính. Chùa Gò Xoài bị bắt 08 vị; chùa Gia Kiết 04 vị; chùa Cao Đài 08 vị; chùa Hạnh Phúc Tăng 04 vị, giam tại ty Miên vụ (hiện nay là trụ sở Hội Chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Long). Các vị sư luôn đấu tranh với chúng nhất định không cởi áo cà sa để mặc áo lính. Các vị sư cả đã cùng liên kết đấu tranh nhiều lần, nhiều nơi.
Sau đó, chúng đưa các vị sư qua chùa Trúc Lâm (cạnh cầu Khưu Văn Ba - hiện nay không còn) để hoàn tục. Chúng đưa các vị sư qua trại nhập ngũ của tỉnh. Bốn vị sư có giấy hoãn dịch về kịp nên được về và 01 vị vì lý do sức khoẻ cũng được thả, còn lại 03 ông chúng đưa qua trung tâm huấn luyện ở Mỹ Tho. Các vị ra trường 01 tháng thì giải phóng.
Sau đó, chúng đưa các vị sư qua chùa Trúc Lâm (cạnh cầu Khưu Văn Ba - hiện nay không còn) để hoàn tục. Bốn vị sư có giấy hoãn dịch về kịp nên được về và một vị vì lý do sức khoẻ cũng được thả, còn lại 03 ông chúng đưa qua trung tâm huấn luyện ở Mỹ Tho. Các vị ra trường 01 tháng thì giải phóng.
Trong các năm 1972 đến 1975, địa phương quân Trà Ôn nhiều lần đóng quân xung quanh khu vực chùa làm bàn đạp tấn công Trà Ôn. Các vị sư cùng nhân dân giúp bộ đội đào công sự chiến đấu dọc theo tuyến sông Măng và xung quanh chùa để bộ đội đánh địch từ phía sông Măng tiến vào. Địch biết được nên đã bắn pháo vào khu vực chùa làm bị thương sư Thạch Sa Nang (Thạch Kul) và sư Thạch Chương, nhưng khó khăn, nguy hiểm các vị sư vẫn bám trụ chùa.
Chùa Gò Xoài được xây dựng vào giữa thế kỷ XVI. Đây là một trong những ngôi chùa cổ của người Khmer ở tỉnh Vĩnh Long. Chùa còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị lịch sử văn hoá như bia đá, lá sima, tượng Phật Thích Ca...
Bên cạnh đó, chùa Gò Xoài còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của đồng bào Khmer xã Tân Mỹ. Ngoài các nghi lễ tôn giáo, chùa cũng là nơi tổ chức các lễ hội cộng đồng. Vì Vậy chùa Gò Xoài có vai trò đặc biệt đối với đời sống văn hoá của đồng bào Khmer ấp Gò Xoài, Mỹ Yên, Sóc Ruộng và của xã Tân Mỹ.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa Gò Xoài luôn gắn bó mật thiết với cách mạng, nhiều vị sư và ban quản trị là nòng cốt cách mạng và đã được Chính phủ, Mặt trận huyện Trà Ôn tặng bằng khen, giấy khen, có vị là thương binh.
Bên cạnh đó, chùa còn là nơi xây dựng tình đoàn kết giữa hai dân tộc Kinh - Khmer đấu tranh chống kẻ thù chung.
Các vị sư cùng cán bộ cách mạng đã giáo dục thanh niên Kinh - Khmer trong vùng không đi lính cho địch và động viên nhiều thanh niên tham gia cách mạng đóng góp cho công cuộc giải phóng dân tộc. Các sư sãi và ban quản trị chùa còn đấu tranh trực diện với kẻ thù chống bắt lính, vận động gia đình có con em đi lính rã ngũ và chống âm mưu của địch đóng đồn bót trong khu vực chùa. Ngoài ra, sư sãi còn vận động phật tử đóng góp tiền bạc vật chất cho cách mạng.
Chùa Gò Xoài lập được thành tích trên có sự đóng góp không nhỏ của Hoà thượng Thạch Chăng. Nhờ vào sự lãnh đạo khéo léo của mình, Hoà thượng Thạch Chăng cùng với Ban quản trị chùa đã đẩy lùi được âm mưu của địch dùng tôn giáo dân tộc để chống cách mạng.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chùa Gò Xoài vẫn là trung tâm tín ngưỡng của bà con dân tộc Khmer xã Tân Mỹ, nơi phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Các vị sư, bà con phật tử tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, cùng nhau chăm lo sản xuất xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc để tốt đạo đẹp đời.
Chùa Gò Xoài được UBND tỉnh ra quyết định số 1554/QĐ.UBND ngày 27/7/2006 công nhận là di tích lịch sử văn hoá.

Di chỉ khảo cổ học Thành Mới trải rộng trên địa bàn ấp Ruột Ngựa, ấp Bình Phụng, xã Trung Hiệp và ấp Bình Thành, xã Trung Hiếu, huyện Vũng Liêm. Di chỉ Thành Mới đã được các nhà khảo cổ học người Pháp phát hiện từ đầu thế kỉ XX. Năm 1944 ông Louis Malleret, nhà khảo cổ người Pháp nổi tiếng, đã đến nghiên cứu Thành Mới và mang về Sài Gòn nhiều hiện vật quí trong đó có pho tượng Phật và tượng Visnu bằng đá. 

Trải qua khoảng thời gian dài công tác nghiên cứu khoa học gián đọan, di chỉ Thành Mới bị đào bới, xáo trộn nghiêm trọng. Đến thập niên 90 của thế kỷ XX các nhà khoa học trong và ngoài nước dành nhiều quan tâm đến Thành Mới.

Trong hai năm 1998 – 1999 Viện Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Bảo Tàng Vĩnh Long tiến hành khai quật di chỉ Thành Mới. Qua hai đợt khai quật, các nhà khoa học đã lảm xuất lộ từ lòng đất hàng ngàn di vật quí bằng các chất liệu: gạch, gốm, đá, gỗ, kim loại…Qua giám định bằng phương pháp phóng xạ C14, các hiện vật Thành Mới có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ VI sau công nguyên. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên nhà khảo cổ phát hiện một di chỉ còn nguyên vẹn các tầng văn hóa tại di chỉ cư trú kênh Ruột Ngựa.

Các nhà khảo cổ học nhận định rằng: từ di tích Thành Mới có thể mở ra hướng đi mới cho việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo đồng bằng sông Cửu Long.


Nghĩa Trủng miếu còn gọi là miếu Âm Nhơn, tọa lạc tại tổ 9, ấp Phước Hanh B, xã Phước Hậu, huyện Long Hồ. Di tích gồm có 02 phần ngôi miếu và nghĩa trang là nơi thờ tự và yên nghỉ của nghĩa sĩ vì nước quên thân.

Ngày 20 tháng 5 năm 1862 thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long, quan quân thành Vĩnh Long chiến đấu anh dũng nhưng không ngăn được sự tấn công của quân Pháp, nên đốt các kho tàng dinh thự trong thành và rút đi, các tử sĩ được đưa về làng Phước Hanh mai táng.

Đến năm 1867, thành Vĩnh Long mất vào tay Pháp, nhiều binh lính không chịu qui hàng nên lui ra vùng ngoại thành kháng chiến. Nghĩa quân chia ra nhiều nhóm nhỏ quần nhau với giặc. Nhưng vì vũ khí thô sơ không chống lại vũ khí tối tân nên nhiều nghĩa quân anh dũng ngã xuống. Nhân dân các nơi chuyển tử sĩ về làng Phước Hanh mai táng.
Nghĩa trang mở rộng khoảng 7000 m2 . Tử sĩ mai táng ở đây lên đến 2000 ngàn người. Nhân dân dựng nên ngôi miếu thờ các vị anh hùng vì nước quên thân. Ngôi miếu ban đầu đơn sơ bằng tre lá. Năm 1945, dân làng Nguơn Hanh góp công sức dựng lại ngôi miếu có phần kiên cố hơn. Năm 1972, ông Đỗ Phước Trinh cúng số tiền đại tu ngôi miếu.
Di tích gồm hai phần: Ngôi miếu và nghĩa trang, ngôi miếu xây hình vuông mỗi cạnh 9m, nền đá xanh cao 0,85m, tường xây ô dước, nền lát gạch tàu, nóc lợp ngói âm dương.
Nghĩa trang nằm cách miếu 100m, diện tích nghĩa trang trước kia là 7000m2, nay thu hẹp còn 4000m2. Trước đây bốn góc nghĩa trang có bốn trụ gạch, cao 1,2m, rộng 0,8m; Nay chỉ còn 02 trụ. Cạnh nghĩa trang hiện còn dấu vết tấm bình phong, xây bằng gạch. Bên cạnh nghĩa trang hiện còn hai cây dương cổ thụ. Lâu nay dân quanh vùng vẫn luôn cố gắng giữ gìn khu nghĩa trang này, vì nơi đây là chỗ yên nghỉ của hơn 2000 anh hùng tử sĩ.
Với tinh thần uống nước nhớ nguồn, lâu nay người dân nơi đây truyền đời thay nhau chăm sóc nghĩa trang, hương khói ngôi miếu. Hàng năm có các lệ cúng: rằm tháng giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mườI. Cùng các lệ cúng: 20 - 21 tháng ba, 16 - 17 tháng tư, mùng năm tháng năm âm lịch.
Ngày 20 tháng 12 năm 2000, UBND tỉnh ra quyết định số 3439/   QĐ.UBT công nhận Nghĩa Trủng miếu là di tích Lịch sử - Văn hóa.

Trên gò đất cao nhất thị xã, tại giao lộ 19 tháng 8 và đường Hoàng Thái Hiếu có một cây đa cao lớn, cành lá sum suê, rợp mát. Người dân Vĩnh Long lâu nay luôn giữ gìn cây đa bằng tình cảm chân trọng, thiêng liêng, vì đây chính là dấu vết duy nhất còn sót lại của Thành Vĩnh Long xưa: Cây đa Cửu Hữu. 

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí và Gia Định Thành Thông Chí vào tháng 2 năm Quí Dậu, đời Gia Long thứ 12 (1813) triều đình Huế lệnh cho quan Khâm mạng Trấn thủ Lưu Phước Tường của Vĩnh Thanh Trấn xây dựng thành. Thành xưa tọa lạc tại phường 1, thị xã Vĩnh Long ngày nay. Thành đắp bằng đất, cửa chính hướng Đông – Nam, lưng quay hướng Tây - Bắc. Chu vi thành rộng 750 trượng (một trượng bằng 3 thước) , cao 1 trượng dày 2,5 trượng. Quanh thành có hào rộng, sông sâu. Phía tả là sông Long Hồ, phía hữu là rạch Ngư Câu (rạch Cái Cá), mặt sau có sông Cổ Chiên (một nhánh lớn của Sông Tiền), mặt trước có đường Cừ Sâu (nay là rạch Cầu Lầu). Thành có 5 cửa quay về 5 hướng Đông – Tây - Bắc – Đông Nam và Tây Nam. Cửa tiền của thành ở hướng đông, cửa hậu hướng Tây, cửa tả hướng Bắc, cửa hữu hướng Tây – nam. Bên ngoài mỗI cửa thành đều có một đoạn thành công, bao vòng cửa. Bốn góc thành tạo thành hình hoa mai. Trong thành có hai con đường dọc, 3 đường ngang, 3 công thự, kho lương, nhà thừa ty, trạI lính và hành cung. Phía đông thành có quan lộ chạy dọc sông Long Hồ, phía tả là nhà Sứ Quán, phía hữu là chợ Vĩnh Thanh. Riêng góc nam của thành, chỗ tiếp giáp đường cừ và sông Long Hồ, có xưởng Thủy sư (xưởng đóng tàu chiến). Thành tuy không rộng nhưng được xây dựng kiên cố, bố phòng chặt chẽ, thuận tiện đường tiến thủ. Nói về tầm quan yếu của thành, sách Gia định Thành Thông Chí nhận định: “…Thật là yếu địa hình thắng vậy”.

Thành Vĩnh Long trong suốt quá trình tồn tại luôn là thành trì vững chắc, chi phối về quân sự - kinh tế - văn hóa cả khu vực Miền Tây Nam Bộ rộng lớn của Tổ Quốc.
Năm 1867, đánh chiếm Vĩnh Long xong, thực dân Pháp đập phá tất cả các công trình văn hóa, đồn lũy của nhà Nguyễn và san bằng thành Vĩnh Long .

Qua cơn tàn phá, rất may trước cửa hữu thành Vĩnh Long còn cây đa sống sót. Nhân dân giữ gìn, bảo vệ cây đa gọi tên cây đa Cửu Hữu để lưu dấu và hoài niệm về thành Vĩnh Long xưa.

Vào thập niên 50, cây đa mẹ - dấu vết duy nhất của thành Vĩnh Long xưa bị lụi tàn. Từ thân cây mẹ, mọc lên cây đa con vươn mình phát triển tươi tốt, tồn tại đến ngày nay.

Năm 2000 di tích Cây đa Cửa Hữu được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa.


Nhà thơ Nhiêu Tâm tên thật là Đỗ Như Tâm, hiệu Như Tâm, Minh Tâm biệt hiệu là Minh Giám, vì ông có chân trong "Nhiêu học" (người được hưởng học bổng trong nhà nước phong kiến) nên người ta thường gọi ông là Nhiêu Tâm. Ông sinh năm 1840, sống ở làng Sơn Đông (nay thuộc xã Thanh Đức, huyện Long Hồ) và mất năm 1911.

Về nguyên quán của Nhà thơ Nhiêu Tâm có 2 ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất cho rằng ông là người Nam Bộ cựu, từ nơi khác lưu lạc đến Vĩnh Long. Ý kiến thứ hai ông là người miền Trung mới đến xứ nầy.

Khi đến ở làng Sơn Đông Nhà thơ Nhiêu Tâm dạy chữ nho và làm nghề bốc thuốc. Cụ ăn ở tại nhà học trò là ông Trần Văn Kỷ. Ông Kỷ mất, cụ Nhiêu Tâm sang ở nhờ nhà người học trò khác là ông Trần Minh Chuẩn ông tiếp tục dạy học, hốt thuốc cho đến khi qua đời.

Theo trí nhớ của dân làng Sơn Đông Nhà thơ Nhiêu Tâm vóc người gầy và cao, đôi mắt bị lòa nên đi lại rất khó khăn, phải chống gậy.

Cho đến cuối đời Nhà thơ Nhiêu Tâm vẫn giữ tiết tháo của một nhà nho. Một nhà thơ sống đời tao nhã, thanh bạch. Dù sống trong cảnh nước mất, làm dân nô lệ dưới chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp, nhà thơ Nhiêu Tâm không hề bị cám dỗ bởi vật chất, bị lung lạc giữa chốn quan trường.

Về văn chương, Nhà thơ Nhiêu Tâm là nhà thơ trữ tình trào phúng nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Nam Bộ. Văn phong Nhà thơ Nhiêu Tâm mang bản sắc dân tộc, thời đại và góp vào thi ca châm biếm miền Nam một tiếng cười bằng ngôn ngữ giản dị và mang chút xót xa của sĩ phu bất đắc chí. Mảng thơ trào lộng của nhà thơ Nhiêu Tâm đã gây ra nhiều tranh luận và giai thoại thú vị được nhiều người truyền tụng.

Nhà thơ Nhiêu Tâm là tác giả của nhiều bài thơ, đoản văn, câu đối nổi tiếng. Như bài “Vịnh Kiều”, bài phú “Bần Phú Luận” (204 câu), “Vợ Tiển Chồng”, “Cảm Tác”, Thuyền Qua Sông”, “Vịnh Miếu Tống Quốc Công”, Khóc Bạn”, Vợ Chệt khóc Chồng Chết Đuối”, “Trẻ Cha, Già Con”,… Sau này, nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn có tập hợp một số bài thơ của ông in thành tập thơ (chung với nhà thơ Học Lạc).

Di văn vật sự của cụ nhiêu tâm rất phong phú, cùng với những nhà Nho, nhà thơ ưu thời mẫn thế khác ở Nam bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhà thơ Nhiêu Tâm là nhà thơ tài hoa. Ngoài tài thơ, ông sống nghèo túng và thanh bạch, ông là người quý trọng tình nghĩa, yêu thương đồng bào, tấm lòng ông khảng khái thanh cao. Tấm lòng và tài năng của Nhà thơ Nhiêu Tâm góp vào lĩnh vực văn chương của Nam bộ, của cả nước những tác phẩm văn thơ mang đậm dấu ấn con người, thời đại mang nhiều biến cố của Lịch sử - Văn hóa nước nhà.

Khi Nhà thơ Nhiêu Tâm mất không thấy có vợ con, quyến thuộc đến viếng, chỉ có học trò chịu tang. Bạn bè người làng Sơn Đông đứng ra làm tang lễ và mai táng ông. Ngôi mộ của ông bằng đất nằm giữa ruộng lúa thuộc ấp Sơn Đông, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ.

Ngày 20 tháng 12 năm 2000, UBND tỉnh Vĩnh Long ra quyết định công nhận ngôi mộ nhà thơ Nhiêu Tâm là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh. Đến năm 2002, nhà nước đầu tư kinh phí trùng tu ngôi mộ và làm đường dẫn đến ngôi mộ để khách thập phương đến viếng thuận tiện hơn và cũng để tỏ lòng tôn kính đối với một nhà thơ: "...Là một kiện tướng trong thi giới nước nhà nói chung và là một nhà thơ trào phúng xuất sắc của thi giới miền Nam nói riêng".


Di tích tọa lạc tại ấp Mỹ Phú I, xã Mỹ Thạnh Trung, huyện Tam Bình. Tương truyền Quan Tiền Hiền người Quảng Đức, họ Phan húy Công An. Chánh thất họ Đặng, tự là Đạt, húy là Thông.

Thời Nguyễn Vương còn bôn tẩu, ông Phan Công An luôn kề cận. Khi Nguyễn Vương chiếm thành gia định ông được nhận bằng Khâm Sai Tiền Chi Cai Cơ nhưng sau đó ông tìm cách cáo lão từ quan, ông đệ đơn xin khai khẩn đất hoang lập ấp. Ông chiêu mộ nông dân phá rừng lập thôn xóm, ruộng đồng. Khi việc khai khẩn, mở rộng từ Ba Xuyên Giang Đạo đến Long Hồ Dinh. Khi một xứ đã thành khoảnh thì ông chọn người đủ tài trí giao cho cai quản, ông lại tiếp tục đến nơi khác để mở mang.

Việc làm của ông tạo ra nhiều của cải cho đất nước, dân cư yên ổn, sức mạnh quy tụ lại không giữ riêng cho mình.
Về sau ông lập thôn Mỹ Thạnh Trung. Ông ra sức chiêu mộ lương dân cùng nhau làm ruộng. Ban đầu, làng Mỹ Thạnh Trung thuộc đất hoang, rừng bụi, sói, hổ, rắn, rít. Ông Phan Công An cùng dân làng ra sức đốn phá cây rừng, lập thành ruộng đồng trù phú, sau đó ông giao lại cho người làng làm chủ vĩnh viễn. Người các nơi tụ về rất đông, thôn xóm trù mật.
Thượng nguyên ngày rằm tháng giêng ông mất. Tuy chưa rõ năm sinh năm mất nhưng chắc chắn không dưới thượng thọ. Sinh tiền gia nghiệp của ông đơn bạc nhưng lòng quân bình đoan chính, hết lòng vì mọi người nên dân làng xa gần đều kính mộ.
Phần bà Đặng Nghi Nhân tánh nghiêm trang, thùy mị, lòng nhân ái rộng lớn. Bà thường chăm lo cho dân làng nếp ăn, nếp ở nên dân làng hết sức trọng vọng, chính quyền đương thời cũng hết sức nể trọng. Khi trong làng có việc đều nhờ đến bà giải quyết, ai cũng tuân phục. Mùa lúa mới hàng năm dân các ấp đều dâng tặng gạo mới.
Hạ nguyên ngày rằm tháng 10 bà qua đời, niên thọ của bà tương đương với Quan Tiền Hiền.
Vì hai ông bà không con, không bà con thân thích xa gần nên dân chúng lập miếu thờ truy tôn là Tiền Hiền.
Trước kia miếu Quan Tiền Hiền Phan Công An là một công trình kiến trúc quy mô rộng lớn. Kiến trúc bao gồm võ ca, võ qui, chánh điện nền miếu cao ráo, cột căm xe, lợp ngói âm dương, bày trí mỹ thuật.
Sau năm 1945, Thanh niên Tiền phong của xã, Bộ đội địa phương, chủ lực miền thường đến miếu họp hội, đóng quân, truy điệu tử sĩ. Vì vậy, năm 1947 Pháp cho máy bay ném bom triệt hạ ngôi miếu. Dân làng tái lập ngôi miếu trên nền xưa, nhưng nhỏ bé, đơn sơ. Hiện nay, miếu là ngôi nhà nhỏ lợp tol, nền lát gạch tàu, vách tường bêtông. Bên trong có khánh thờ linh vị ông bà Tiền Hiền, hai bên thờ Tả ban Liệt vi, Hữu ban Liệt vị.
Mộ phần của ông bà Tiền Hiền nằm bên cạnh sông Bằng Tăng. Hai ngôi mộ đá lớn được dân chúng thường xuyên chăm sóc, hương khói.
Hàng năm, tại miếu có hai lễ giổ: giỗ ông vào tháng giêng, giỗ bà vào tháng 10 các thôn ấp đều có người đến tế lễ, trần thiết lễ nhạc, nhang khói bái kiến thành kính một lòng như đối với ông bà tổ tiên. Trước kia mỗi lễ cúng kéo dài ba ngày và đều cúng bằng đại lễ. Nay lễ tiết có phần giản tiện hơn nhưng lòng tôn kính của dân làng vẫn nguyên vẹn như xưa.
Di tích miếu Quan Tiền Hiền Phan Công An là nơi lưu dấu một thuở tiền nhân đổ bao mồ hôi, công sức, máu xương khai phá vùng đất mới phương Nam nói chung và vùng Vĩnh Long, Tam Bình nói riêng. Việc lập miếu thờ ông bà Phan Công An là biểu hiện đạo nghĩa “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống tốt đẹp này đang được giữ gìn phát huy.
Ngày 20/12/2000, miếu Quan Tiền Hiền Phan Công An được công nhận là di tcíh lịch sử văn hoá cấp tỉnh (Quyết định số 3442/QĐ.UBT).

Đình làng Thiện Mỹ nằm bên bờ sông Hậu, cách thuỷ lộ quốc gia (đường sông từ Cà Mau đi Thành Phố Hồ Chí Minh) 400 mét, cạnh quốc lộ 54, thuộc trung tâm thị trấn Trà Ôn. Ngôi đình bề thế hầu như còn nguyên vẹn, tọa lạc trên khu đất rộng, riêng biệt. Phía trước và bên hông có lộ lớn, tráng nhựa. Một công trình văn hóa vô giá mà người xưa để lại cho nhân dân Trà Ôn.

Qua nhiều lần tu sửa và xây dựng, đến năm 1935, đình mới được cất qui mô như ngày hôm nay. Nền cao 1 mét, được cẩn đá ông, rộng 17,5 mét, dài 65 mét, lát gạch tàu cở lớn. Đình gồm 3 gian võ ca, võ quy và chánh điện; cột căm xe, kèo vỏ đậu, mái lợp ngói âm dương, có ngói ống bắc cầu. Trên nóc mỗi gian có đúc hình lân giữ thành, phượng chầu mặt nguyệt, song long tranh châu - Thể hiện tấm lòng hoài vọng cố hương của người xa xứ. Từ lâu mái đình, cây dương, bến sông đã trở thành góc quê hương của bao người dân xứ Trà Ôn.

Đình làng Thiện Mỹ, một mặt khẳng định sự chinh phục thiên nhiên, lập nên làng, xóm ở cuộc đất ven sông này. Mặt khác còn biểu hiện nhiệt tình, bàn tay khéo léo, trình độ nghệ thuật, tính cách văn hóa....qua xây dựng cấu trúc bên trong của người xưa. Không tính cột xây bằng gạch ngoài hàng hiên, đình có trên 70 cây cột tròn bằng gỗ quí, bề hoành từ 1,2 – 1,4 mét. Kèo cột, đòn tay xuyên, trính... có đến hàng trăm khối gỗ. Nhiều cột có chạm mặt liễng, tứ linh rất công phu. Cùng với long trụ, những câu liễng đối bằng chữ nho, cho thấy sự lịch lãm, thâm thuý, ý vị của người xưa. Đình làng Thiện Mỹ được công nhận di tích lịch sử - văn hóa năm 2005.

Di tích tọa lạc tại khóm 4, phường 4, thị xã Vĩnh Long

Đình thần Long Hồ được xây dựng vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX. Lúc đầu ngôi đình xây dựng đơn sơ cây lá. Nhân dân làng Long Hồ trùng tu ngôi đình nhiều lần. Năm 1852 đình long Hồ được vua Tự Đức sắc phong “Bổn Cảnh Thành Hoàng”.

Năm 1904, Ban Hội hương và dân làng Long Hồ tiến hành trùng kiến ngôi đình, sau thời gian dài đình bị xuống cấp. Đến năm 1972 đình lại được nhân dân đóng góp trùng tu, tôn tạo.

Ngôi đình hiện tại có qui mô rộng lớn gồm ba gian: võ ca, võ qui và chánh điện; bên hông phải có miếu Tiên Nông, miếu Thổ Thần và nhà trù. Đình cất bằng gỗ căm xe, nền lát gạch tàu, mái lợp ngói âm dương. Ngôi đình Đình thần Long Hồ có niên đại lâu đời, sau nhiều lần trùng kiến, trùng tu đình vẫn giữ được nét kiến trúc đẹp, cổ kính. Bên trong đình bày trí đẹp, trang nghiêm. Nội thất đình bày trí nhiều bao lam,hoành phi, câu đốI đẹp, chữ nghĩa thâm thuý. Đặc biệt, trong đình còn lưu giữ đạo sắc Thành Hoàng Bổn Cảnh và hai sắc phong triều đình phong tặng cho ông Ngô Đức Kế, người làng Long Hồ làm quan dưới triều Nguyễn.

Hàng năm tại đình Long Hồ có các dịp lễ hội chính:
-     Lễ hạ điền: 14 - 15/4 (âl)
-     Lễ thượng điền: 14 - 15/10 (âl)
Ngoài ra, theo thông lệ, ba năm đáo lễ Kỳ Yên một lần. Các ngày lễ hội đông đảo bà con xa gần, các đình xung quanh đến chiêm bái.
Đình Long Hồ được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa năm 2000.


Đình Bình Phụng thuộc ấp Bình Phụng, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm. Đình được tạo lập vào năm 1920, bằng tre lá đơn sơ thờ Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh và những bậc tiền nhân có công với làng xã. Bên cạnh đó dân làng còn thờ ông Tà theo tín ngưỡng dân gian Khmer.

Năm 1925 đình được trùng kiến theo một ngôi đình Nam bộ truyền thống. Đình có kiến trúc hình chữ tam gồm võ quy, võ ca và chánh điện.

Trong kháng chiến chống Pháp, đình Bình phụng là một trong những địa điểm liên quan đến cuộc khởI nghĩa Nam Kỳ. Cuối năm 1940 thực dân Pháp đàn áp phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa, lục soát ngôi đình và bắt đi hơn 20 nghĩa quân.
Sau Cách Mạng Tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng sử dụng đình Bình Phụng làm trụ sở Ủy Ban Hành Chính xã, là nơi hội họp các đoàn thể như Phụ Nữ, Thanh Niên Tiền Phong,... của xã Trung Hiệp.
Cuối năm 1946 thực dân Pháp phá hủy hoàn toàn đình Bình Phụng. Đem cây gỗ về cất trại lính ở Mai Phốp (Trung Hiếu).
Đến năm 1955 đình được dựng tạm cách nền đình cũ khoảng 400m về hướng cầu Sẹo (nay là trường tiểu học cấp I A).
Năm 1994 đình dời trở về vị trí ban đầu. Ngày 21/4/2002 đình Bình Phụng được khởi công xây dựng lại hoàn toàn mới trên diện tích 3050m2 bao gồm: chánh điện, nhà khói và sân khấu. Đình có khoảng sân rộng, trồng nhiều hoa kiểng, cây xanh. Khoảng sân đủ sức chứa đông người tập trung trong các dịp lễ hội. Trong sân đình có một bia sự kiện Nam Kỳ Khởi Nghĩa năm 1940, bia làm bằng nguyên khối đá hoa cương màu đỏ do cựu nghĩa quân Phan Văn Hòa (Võ Văn Kiệt) phụng lập ghi lại sự kiện Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940.
Hằng năm đình có hai lệ cúng chính là:
                        Lễ Hạ Điền ngày 17/3 âm lịch
                        Lễ Thượng Điền 17/10 âm lịch
Đình Bình Phụng được thành lập vào năm 1920 khá muộn so với các đình khác trong tỉnh. Vì bị thực dân Pháp thiêu hủy hoàn toàn vào năm 1946 nên tính đến thời điểm trùng tu quy mô vào năm 2003 thì đình đã hoàn toàn thay đổi so với một mái đình đơn sơ tre lá của thuở ban đầu.
Đình Bình Phụng được UBND tỉnh công nhận di tích cấp tỉnh (quyết định số 970/QĐ.UBT, ngày 17/4/2003)

Đây là một ngôi đình được tạo lập vào năm Mậu Thìn (1808), tọa lạc tại ấp Phước Trinh A, xã Bình Phước, huyện Mang Thít. Cách trung tâm thị xã 10 km theo quốc lộ 53 về phía đông nam. Ban đầu đình được tạo lập đơn sơ với nền đất cột cây, mái lá. Đến năm Tự Đức thứ 5 (1853), đình Bình Phước được triều đình Huế sắc phong Bổn Cảnh Thành Hoàng chi Thần.

Vào khoảng năm 1927, đình bị xuống cấp. Ban hội hương đã huy động dân trong làng được số tiền lớn và bắt đầu kiến thiết lại toàn bộ ngôi đình. Lúc đó đình Bình Phước thật khang trang gồm 3 gian: võ ca, võ quy và chánh điện, gian nào cũng trang nghiêm và lộng lẫy. Cổng tam quan được trang trí "Lưỡng long tranh châu" bằng gốm thật đẹp. Còn trong sân đình trồng nhiều hoa kiểng quí hiếm. Đình không những là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân Bình Phước mà còn đẹp về mặt cấu trúc của một ngôi đình làng truyền thống vùng Nam Bộ. Hơn thế trong hai cuộc chiến chống Pháp đánh Mỹ đình còn là trụ sở làm việc và là nơi bảo vệ cách mạng vững chắc như: Ủy ban nhân dân, Mặt trận Việt Minh, Thanh niên tiền phong, Ủy ban kháng chiến, Hội phụ nữ, Trạm y tế và tổ chức các buổi diễn thuyết về phong trào cách mạng.

Đến năm 1945, đồng chí Nguyễn Văn Thiệt (Bí thư chi bộ Đảng đầu tiên của Vĩnh Long) đến đình để thành lập ban "Tuần lễ vàng" của xã Bình Phước.

Vào năm 1949, để chống lại âm mưu chiếm đình của địch làm nơi đóng quân chống phá cách mạng, do đó chính quyền cách mạng hạ lệnh đốt hủy ngôi đình.

Đến những năm 1952 - 1953, các cụ trong làng đi vận động nhân dân cất lại ngôi đình bằng tre lá trên nền đình cũ để có nơi thờ thần và cúng tế hằng năm. Dù không còn qui mô và kiến trúc như xưa, nhưng năm 1955 đình vẫn tiếp tục làm cơ sở bí mật của cách mạng để triển khai chỉ thị của Trung ương.

Năm 1957, để nơi thờ thần được khang trang hơn nhân dân Bình Phước cùng nhau đóng góp công, của để trùng kiến lại ngôi đình mới trên nền đình cũ. Việc trùng kiến đình kéo dài từ năm 1957 - 1959 mới hoàn thành. Do lần trùng kiến này điều kiện kinh tế của dân làng còn hạn hẹp nên chỉ khôi phục được hai phần gồm chánh điện và võ quy cho đến ngày nay.

Đến những năm 1960 - 1970, đình tiếp tục nuôi chứa và là chỗ che chở,canh giữ cho cán bộ cách mạng đến ngày giải phóng.

Đình Bình Phước ngày nay được hội hương đình gìn giữ và bảo quản tốt với những hiện vật có giá trị còn lại sau chiến tranh.

Khi đến đây, du khách có thể tận mắt cảm nhận được hết giá trị của một ngôi đình không chỉ về kiến trúc của đình làng Nam Bộ mà du khách còn cảm nhận được sự thanh tĩnh và thành kính đều mà ngôi đình đã làm trong hai cuộc chiến qua.

Hằng năm đình có các lễ hội truyền thống như:
·         Lễ khai sơn: diễn ra vào ngày mồng 4/1 (âm lịch).
·         Lễ hạ điền - kỳ yên: diễn ra vào ngày 16 - 17/4 (âm lịch).
·         Lễ thượng điền: diễn ra vào ngày 16 -17/11 (âm lịch).
Hiện nay, đình Bình Phước nằm trong danh sách được Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định xếp hạng di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh.

Đình Hậu Thạnh toạ lạc tại ấp Tân Thạnh, xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ngôi đình đầu tiên chỉ cất đơn sơ cột cây, lợp lá, nền lát gạch tàu, tại vàm Ngã Bát cách vàm Trà Ôn 1.000m. Năm 1924 bà con trong vùng quyên góp xây dựng bằng gỗ căm xe, thao lao và hoàn thành cuối năm, với đầy vẽ uy nghi đáp ứng đời sống tâm linh của bà con vùng sông nước cù lao.

Đầu TK XX, có ông Trần Đại Cang và Nguyễn Văn Sầm từ Quảng Ngãi vào. Hai ông đã từng tham gia phong trào Cần Vương vì bị theo dỏi và truy bắt của địch nên chạy vào Nam, định cư tại làng Hậu Thạnh. Nhờ có kiến thức về nho học hai ông đã mở lớp dạy học, hốt thuốc trị bệnh cho nhân dân được nhân dân tín nhiệm và hết lòng thương yêu. Hai ông đã bí mật sử dụng đình làm nơi họat động. Đến năm 1930 có ông Nguyễn Phụ đến làng Hậu Thạnh tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước cho các ông Lương Châu Trân, Nguyễn Hữu Thuần, Ngô Công Kiều, Trần Đại Minh, Nguyễn Thế Thao, các ông đều là con cháu trong ban hội hương đình.Tại đình các hội yêu nước lần lượt được thành lập như: hội Khoai Lang, hội Aí Hữu Hương Tế, hội Khuyến Học… Các hội đã lấy đình làm nơi giao tiếp, hội họp diễn đàn hợp pháp để đấu tranh.

Từ năm 1930- 1945, tại đình đã mỡ nhiều lớp học tập và huấn luyện quân sự như: lớp tập huấn thanh niên yêu nước, lớp tập luyện quân sự, do các ông Nguyễn Toàn Tuất, ông Hạnh chủ trì.
Tháng 8 năm 1945, tại đình đã tập hợp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và từ tiếng mõ ngân vang của đình đã rầm rộ cướp chính quyền trong xã và sang quận Trà Ôn. Góp phần cùng chung cả nước làm nên cuộc cách mạng tháng Tám thành công.
Năm 1946, thực hiện chiến lược tiêu thổ kháng chiến chống Pháp" vườn không nhà trống", Ban hội hương đình cùng bà con dân làng đồng tâm phá bỏ các bức tường xung quanh để không cho giặc Pháp chiếm đóng làm đồn chống phá cách mạng. Đình đã hiến các cây cổ thụ như sao, dầu cho quân khu làm ghe, xuồng chở bộ đội và tiếp tế lương thực phục vụ kháng chiến.

Đầu năm 1946, Cù Lao Mây được đổi tên là Lục Sĩ Thành để tỏ lòng tiếc thương và tưởng nhớ người chiến sĩ cách mạng, người con ưu tú của quê hương đã anh dũng ngã xuống mang tên Lục Sĩ Thành. Cũng trong năm này các lớp tiếp tục mở như: lớp huấn luyện Cộng Hòa Vệ Binh, lớp tập huấn cho Thanh Niên Tiền Phong, lớp huấn luyện quân sự xã do các ông Nguyễn Văn Bân, Nguyễn Văn Ba chủ trì. Trong hai cuộc kháng chiến đình Hậu Thạnh là cơ sở họat động cách mạng của xã Lục Sĩ Thành.

Qua bao thăng trầm của thời gian và qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đến nay đình vẫn con mang dáng vẽ và mang đậm nét đình làng Nam bộ, với đầy vẽ cổ kính. Trong đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quí giá.

Đình Hậu Thạnh được xếp hạng di tích Lịch sử - văn hóa năm 2005.

Đình Kỳ Hà, toạ lạc tại ấp An Thạnh, xã Phú Đức, huyện Long Hồ, được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX. Đến năm 1852, đình được vua Tự Đức Sắc phong "Thành Hoàng Bổn Cảnh".

Đình Kỳ Hà nằm giữa huyện lỵ Long Hồ và căn cứ rừng Dơi. Trước 1927, nhiều nhân sĩ trí thức về đây hoạt động. Đến khi chi bộ Ngã Tư Long Hồ được thành lập, đình là địa điểm họp dân để cán bộ tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng cộng sản. Khi bị mật thám ruồng bố, thì cán bộ nhân dân từ đình chạy vào rừng Dơi ẩn náu, bình yên lại trở ra hoạt động cách mạng.

Nhằm tiêu thổ kháng chiến, ngăn chặn bước chân thực dân Pháp tái chiếm miền Nam, nhân dân Phú Đức đã tháo dỡ ngôi đình. Đến năm 1956, nhân dân xây dựng lại ngôi đình. Hiện còn lưu giữ được một số hiện vật quí giá của ngôi đình xưa.
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là nơi diễn ra nhiều cuộc họp của cán bộ cách mạng và nhân dân trong vùng.
Đình là nơi thờ tự tôn nghiêm lại nằm cạnh bờ sông Cái Cau thơ mộng gợI nhớ không khí hội hè, náo nhiệt và không khí uy nghi của đình Kỳ Hà xưa. Hàng năm có các lệ cúng theo âm lịch:
            - Giổ Tổ Hùng Vương: mùng 10 tháng 3
            - Lễ Thượng điền: 15-16 tháng1 3
            - Lễ Hạ điền: 15 -16 tháng 11
Đình Kỳ Hà được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh ngày 20 tháng 12 năm 2000.

Di tích tọa lạc tại Ngã Ba Đình thuộc ấp Hòa Thuận, xã Hòa Ninh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Đình thần Hòa Ninh xưa được xây dựng vào năm Kỷ Dậu 1849. Đình cất trên phần đất rộng 2.000m2 của ông Huỳnh Văn Phuông. Sau đó hội hương của đình Hòa Ninh mua thêm 10.000m2 mở rộng phạm vi của đình để thuận tiện cho việc thờ cúng chiêm bái của dân làng.

Ngôi đình xưa có khoảng sân rộng. Đình nằm cách thị xã Vĩnh Long về phía bắc cũng khoảng 4km. Kiến trúc đình theo kiểu đình làng Nam Bộ truyền thống. Đình gồm 3 gian: võ ca, võ quy và chánh điện, mái lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu.

Đến năm Tự Đức ngũ niên (1852) đình Hòa Ninh được sắc phong Thành Hoàng Bổn Cảnh. Năm 1902, đình bị sụp đổ, hư dột, dân làng Hòa Ninh hợp sức đóng góp sức người, sức của dựng lại ngôi đình mới trên nền đình cũ.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, do yêu cầu tiêu thổ kháng chiến, hội hương đình Hòa Ninh đồng ý phá hủy ngôi đình vào tháng 8 năm 1948. Năm 1949, do nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, hội hương đình đã dựng tạm ngôi đình đơn sơ trên nền cũ. Năm 1970, đình được tôn tạo lại lần nữa.
Ngày 08/8/1995, dân làng Hòa Ninh khởi công trùng kiến ngôi đình đến ngày 16/11/1995 hoàn tất công trình.  Khoảng năm 1868 – 1870, khu vực đình Hòa Ninh cây cối rậm rạp, nghĩa quân của cụ Võ Minh Chơn, hậu duệ của cụ Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương), tụ hợp nơi đây để đánh Tây. Cụ Chơn khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười vì bị bệnh nên tạm lánh về Hòa Ninh nuôi dưỡng lực lượng chống Tây lâu dài. Thực dân Pháp phát hiện lực lượng nghĩa quân nên ruồng bố ráo riết. Chúng bắt được cụ Võ Minh Chơn và ông Xã Sĩ. Thực dân Pháp dụ hàng nhưng 2 cụ cương quyết không chịu, chúng đem hai cụ ra hành quyết tại ngôi đình Hòa Ninh này nhằm đàn áp phong trào Cần Vương và khủng bố tinh thần của nhân dân. Ngôi mộ của hai cụ nằm trong đất đình Hòa Ninh. Do có sự thay đổi trong quá trình quản lý đất đai, hiện nay mộ của 2 cụ không thuộc phạm vi đất đình mà cách đất đình khoảng 100m về hướng bắc.
Trong thời kỳ Đảng Cộng Sản Việt Nam còn hoạt động bí mật, dù địch kiểm soát gắt gao nhưng năm 1938, đồng chí Trịnh Quốc Thành (sinh năm 1920, quê quán ở Long An, nay đã mất) là một cán bộ được cấp trên đưa xuống để tìm cách gây dựng cơ sở cách mạng và chi bộ Đảng đầu tiên ở vùng đất bốn xã cù lao ngày nay, được thành lập dưới gốc cây đa của đình làng Hòa Ninh. Đồng chí Phạm Văn Tung (Năm Tung) được bầu làm bí thư. Đình còn là địa điểm hoạt động của Thanh niên tiền phong từ tháng 10 năm 1945.
            Đình thần Hòa Ninh có các lệ cúng:
            - Lễ Hạ Điền ngày 10/3 âm lịch
            - Lễ Thượng Điền ngày 15 – 16/10 âm lịch
            - Ba năm đáo lệ Kỳ Yên một lần

Đình Hòa Ninh có một lịch sử hình thành lâu dài. Trải qua những đổi thay của lịch sử và sự mai một của thời gian, đình vẫn còn được gìn giữ cho tới ngày nay.

Ngôi đình ngày nay được trùng kiến trên nền đình cũ ngày xưa. Tuy kiến trúc không còn tuân theo những chuẩn tắc của một ngôi đình làng nhưng việc trùng kiến và bảo quản đình như hiện nay của ban hội hương là một sự cố gắng rất lớn của nhân dân Hòa Ninh. Bên cạnh đó, đình Hoà Ninh là một trong những di tích nằm trong khu du lịch sinh thái của tỉnh Vĩnh Long, nơi thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Các hoạt động du lịch có thể phối hợp giữa du lịch xanh và tham quan các di tích lịch sử văn hoá của tỉnh, trong đó có đình Hoà Ninh, nơi hội tụ những người chiến sĩ cách mạng, những người yêu nước góp phần vào sự nghiệp thống nhất chung của tổ quốc.

Ðình Hoà Ninh được UBND tỉnh ra quyết định số 3101/QÐ.UBT, ngày 17/9/2003 công nhận di tích cấp tỉnh.

Chùa Bồ Đề tọa lạc tại ấp Mỹ Hưng, xã Mỹ Hoà, huyện Bình Minh, cách thị xã Vĩnh Long chừng 30 km về phía Tây, cách thành phố Cần Thơ 2km về phía đông nam.

Theo các bậc kỳ lão, chùa Bồ Đề xây dựng từ giữa thế kỷ XIX. Nơi đây là điểm tu hành của nhiều tín đồ sùng đạo, nhiều vị cao tăng đạo cao, đức trọng. Với thời gian tồn tại lâu dài, cùng sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh vừa qua, chùa Bồ Đề không còn nguyên vẹn với những đường nét cổ kính xưa kia. Nhưng trong ký ức của bao người, nơi đây vẫn là điểm son tươi thấm của tình yêu quê hương đất nước, sự hài hợp tuyệt vời giữa đạo pháp và dân tộc, thể hiện xuyên suốt hai cuộc chiến tranh vệ quốc.

Ngay từ đầu thập niên 30, trong ấp Mỹ Hưng xuất hiện một người đàn ông lạ mặt phong cách lịch duyệt, nói năng mực thước, thường mặc áo dài xuyến, đầu đội khăn đóng. Ông lưu lại trong chùa Bồ Đề hốt thuốc nam trị bệnh cứu dân lành. Người thầy thuốc nhanh chóng nổi tiếng với tài trị bệnh rất giỏi lại thông thiên văn, địa lý. Mọi người bị lôi cuốn bởi tài hùng biện, kiến thức uyên bác của ông thầy thuốc.Thanh niên trai tráng thường xuyên tập hợp tại chùa để được nghe thầy Ba – Bà con thân mật gọi ông thầy thuốc nam nói chuyện. Những chuyện từ làm ăn, sinh sống, vui chơi giảI trí hàng ngày đến những chuyện xa, chuyện gần đông – tây – kim cổ. Dần dần nhiều thanh niên vốn mù chữ, thiếu thông tin đã hiểu biết ít nhiều về thế sự. Họ hiểu vì sao có kẻ giàu, người nghèo, có bất công xã hội...Tâm hồn thanh niên được người thầy khơi gợI tình yêu quê hương đất nước, gieo mầm tư tưởng tiến bộ.

Người thầy thuốc ở chùa Bồ Đề một năm. Ông ra đi một thời gian ngắn. Sau khi trở lại chùa, ông xuống tóc quy y và mang pháp danh Nhựt Quang.
Thầy Nhựt Quang giỏi giáo lý nhà phật, thông thiên, bác cổ nên bà con tín đồ xa gần hết sức trọng vọng. Nhiều người tự nguyện tìm đến xin học tập, kết thân với thầy. Trong số này có ông Bùi Văn Hoành, bà Bùi Thị Trường, bà Chiêm Thị Ngó (tức bà Phan Thị Đạm). Thầy say sưa nói về vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội, phong trào đấu tranh của phụ Nữ Việt Nam và phụ nữ thế giới, quyền sống của phụ nữ,sự bất bình đẳng xã hội mà phụ nữ đang gánh chịu nặng nề... Luồng tư tưởng mới truyền sang những thanh niên đang khao khát, hoài vọng về tiền đồ quốc gia, dân tộc. Thầy Nhựt Quang phổ biến cho thanh niên các loại sách báo tiến bộ đương thời như: Phụ nữ Tân Văn, Một chữ trinh, Trai nam Việt, Gái lạc Hồng...có tác dụng lớn trong việc trang bị kiến thức cho thanh niên.
Sự thật thầy Nhựt Quang là nhà cách mạng Nguyễn Văn Nhẫn đang bí mật hoạt động, gầy dựng phong trào. Ông tìm về chùa Bồ Đề để tạo dựng cơ sở cách mạng, xây dựng tổ chức Đảng. Năm 1934 thầy Nhựt Quang vận động quần chúng xã Mỹ Hoà thành lập các hội Ái Hữu, bổ biến các tài liệu cách mạng cho thanh niên tiến bộ. Năm 1936 chi bộ đầu tiên của xã Mỹ Hoà được thành lập tại chùa Bồ Đề. Đây là kết quả qua dày công vận động, rèn luyện thử thách của nhà cách mạng tiền bốI Nguyễn Văn Nhẫn.
Sau khi chính thức thành lập chi bộ Mỹ Hoà hoạt động tại xã nhà, đồng thời một bộ phận bí mật hoạt động ở thành phố Cần Thơ . Hai bộ phận thường xuyên hỗ trợ lẫn nhau. Chi bộ Đảng vận động nhân dân tham gia các đoàn thể, hội nhóm; phát động nhân dân yêu cầu nhà cầm quyền giảm sưu, giảm thuế. Năm 1936, đồng chí Đặng Công Lý tổ chức đưa đồng chí Bảy Cùi (tức Phan Văn Bảy (1910 – 1942) – Nguyên phó Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ) sang Mỹ Hòa tổ chức nhiều đợt tuyên truyền cách mạng có đông đảo nhân dân tham dự. Chi bộ Đảng Mỹ Hòa thường tổ chức họp tại chùa Bồ Đề, để che mắt địch khi họp đều có bộ bài cào để giữa bàn, mỗi đảng viên bày trước mặt một ít tiền lẻ.
Năm 1939 – 1940 nhiều đảng viên chi bộ Mỹ Hòa bị lộ, bọn mật thám Pháp, tề ngụy theo dõi, bắt bớ. Các đồng chí Huỳnh Văn Chiêm, Lê Văn Vị, Từ Hiền Đại bị đày ra Côn Đảo, các đồng chí Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Văn An,Nguyễn Văn Đông, Bùi Văn Bảy, Chiêm Thị Ngó bị giam ở Chí Hòa, Bà Rá. Sau đó, đồng chí Đông hy sinh ở Côn Đảo, đồng chí Lưu Nhân Sâm bị xử bắn ở Hóc Môn.
Cách mạng tháng tám thành công, các đồng chí bị lưu đày trở về quê nhà hoạt động, tiếp tục lui tới chùa Bồ Đề hội họp. Khi Pháp quay lại Việt Nam, ủng hộ tuần lễ đồng – vàng của Chính phủ chùa Bồ Đề hiến đại hồng chung làm vũ khí đánh giặc.
Năm 1955 – 1956 Ngô Đình Diệm lập tỉnh Tam Cần, lấy thị trấn Trà Ôn làm tỉnh lỵ, lập ra huyện Bình Minh. Lúc ấy, tỉnh ủy Tam Cần chọn Mỹ Hòa, Đông Thành (Bình Minh), Ngãi Tứ, Song Phú (Tam Bình) làm khu căn cứ . Tỉnh ủy Tam Cần thường chọn chùa Bồ Đề làm điểm hội họp. Các đồng chí Nguyễn Thành Khẩn (Mười Thơ), Lê Thới Tợi, Chín Hà nhiều lần về chùa Bồ Đề nghỉ ngơi, hoạt động. Cơ sở cách mạng nhiệt thành. Đặc biệt các ni sư giúp đỡ cách mạng tận tâm, tận lực.
Trong các năm 1957 – 1959 liên Tỉnh ủy miền Tây từ căn cứ U Minh chuyển về đóng ven hai bờ sông Hậu, xã Mỹ Hòa trở thành xã căn cứ của Liên Tỉnh uỷ. Mỹ Hòa nhiều lần đón tiếp các đồng chí Phạm Thái Bường, Sáu Dân, Sáu Đàng, Mười Thơ về hội họp, chỉ đạo phong trào. Đồng chí Nguyễn Văn Hạnh (tức Tám Lương) trưởng ban cơ yếu khu Tây Nam Bộ, kiêm nhiệm trạm đầu mối liên lạc của văn phòng Liên tỉnh ủy miền Tây hoạt động ở Mỹ Hòa trong thời gian khá dài. Trong quá trình hoạt động đồng chí liên hệ với ni cô Trần Thị Tám là trụ trì của chùa Bồ Đề. Ni cô Trần Thị Tám canh gác bảo vệ các cuộc họp chu đáo, an toàn. Cho đến khi Tỉnh ủy tam cần giải tán, nơi đây không xảy ra sự việc đáng tiếc.
Sau Mậu Thân 1968, ông Võ Thành Bảy ở Cần Thơ về chùa Bồ Đề bàn bạc với các sư sãi, tín đồ đưa ông Chín Tòng, pháp danh Thích Trí Quãng về làm trụ trì chùa. Các ông bà bác Sĩ Thuấn, Võ Văn Bảy, Hai Trăm tổ chức rước ông Nguyễn Văn Tòng từ chùa Long ThớI, kế sách, Cần Thơ về chùa Bồ Đề. Nhằm che mắt địch, tôn giáo vận Cần Thơ tổ chức lễ rước tượng phật long trọng. Từ thời điểm ấy chùa bồ đề trở thành cơ quan của tôn giáo vận Thành Phố Cần Thơ. Thầy Thích Trí Quãng xây bệ tượng bằng ximăng, bên trong để bọng, làm hầm bí mật, phòng khi cấp thiết (hầm bí mật nay vẫn còn). Thầy Thích Trí Quảng hoạt động liên tục tại chùa, đến năm 1975 mới về lại Thành Phố Cần Thơ.

Chùa Long Khánh tọa lạc tại số 28 đường 8 – 3 khu vực 4 khóm B phường 5 thị xã Vĩnh Long. Chùa Long Khánh cách trung tâm thị xã Vĩnh Long 1800 m2 về phía đông nam. 

Chùa Long Khánh được tạo lập từ giữa thế kỷ thứ XIX. Lúc đầu chùa được cất đơn sơ tre lá. Đến đầu tháng 12 năm 1912, bà Nguyễn Thị Mai, một tín đồ sùng đạo trong làng Long Thanh (Tổng Bình Thiềng - Đệ Nhất Quận - tỉnh Vĩnh Long), tự nguyện hiến 5 ha đất để trùng tu ngôi chùa và là nguồn hoa lợi sinh sống cho các vị tu sĩ.

Vào năm 1943, Hoà Thượng Thích Pháp Vân tên thật là Dương Bá Thạnh sinh năm 1904, quê xã Hậu Lộc, huyện Tam Bình đến chùa Long Khánh làm trụ trì. Ngay thời gian đầu về chùa thầy Thích Pháp Vân đã nuôi chứa cán bộ Cách mạng và tham gia các hoạt động cách mạng: in truyền đơn, biểu ngữ, vận động nhân dân hưởng ứng hiến nhiều tiền bạc ủng hộ cho kháng chiến chống Pháp. Thầy cho xây một vách đôi tại gian hậu tổ làm hầm bí mật nuôi chứa cán bộ.
Đến năm 1954 đất nước chuyển sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, chùa Long Khánh vẫn tiếp tục là cơ sở an toàn của Cách Mạng.
Năm 1967, do nhu cầu bám trụ trong lòng địch, nhiều cán bộ lãnh đạo của thị xã Vĩnh Long thường xuyên về chùa Long Khánh. Hoà thượng Pháp Vân cùng một số cán bộ đào hầm bí mật tại gian chánh điện. ThờI điểm này, chùa Long Khánh là đầu mốI liên lạc của nhiều nơi như Mặt trận dân tộc giảI phóng miền Nam khu 8, Trí vận và binh vận khu 8, Tôn giáo vận thành uỷ Mỹ Tho…Những năm 70 chùa Long Khánh vẫn tiếp tục là nơi nuôi chứa cán bộ, thầy Thích Pháp Vân vẫn quyên góp vật chất để tiếp tế cho bộ đội tới ngày thống nhất đất nước 30/04/1975.
Hơn 30 năm trụ trì chùa Long Khánh, Hoà Thượng Thích Pháp Vân đã tạo ra cho Cách Mạng một cơ sở đáng tin cậy, an toàn góp phần thực hiện mong ước hòa bình, độc lập của cả dân tộc. Điều đáng nói hơn hết là hoạt động của chùa xuyên suốt từ năm 1943 đến năm 1975 mà không hề bị lộ.
Năm 1979 Hoà Thượng Thích Pháp Vân viên tịch, chùa Long Khánh không ai trụ trì. Sau đó ni sư Thích Nữ Trí Tiên Tiên về trụ trì chùa Long Khánh cho tới nay.
Nhìn tồng thể chùa là một quần thể kiến trúc khá rộng với nhiều tòa nhà nốI nhau bao gồm: chánh điện, thiên tĩnh, phòng khách, phòng thuốc nam, nhà ăn, nhà trù (nhà bếp) và hậu tổ.
Ngày 17/03/1999 Chủ Tịch nước Trần Đức Lương đã tặng Hoà Thượng Thích Pháp Vân huy chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc và huân chương kháng chiến hạng nhì vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Chùa Long Khánh được UBND tỉnh Vĩnh Long quyết định số 970/QĐ ngày 17 tháng 04 năm 2003 công nhận di tích lịch sử cách mạng.ngày 17 tháng 04 năm 2003.

Chùa Toà Sen toạ lạc tại ấp Hoá Thành, xã Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Tổng diện tích của chùa là 17.780 m2. Chùa có khuôn viên rộng rãi thoáng mát, có vườn cây cổ thụ và cây ăn trái. Các công trình kiến trúc được xây dựng bằng bê tông cốt thép.

Chùa Toà Sen được xây dựng vào năm 1800, lúc đầu xây dựng đơn sơ, mái lợp lá, cột gỗ, vách ván với tên gọI là Chắc- bai, có nghĩa là “đổ cơm”. Chùa Chắc Bai lúc đó do sư cả Sơn Sóc trụ trì. Sau đó chùa Chắc Bai đổi thành chùa Wêt Ta Sel. Hiện nay, chùa có tên gọI Sensary Satthiaram, thường gọI là chùa Toà Sen.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ, chùa Toà Sen là cơ sở cách mạng có vị trí hết sức quan trọng của xã Đông Thành, Bình Minh, của Vĩnh Long và có lúc là của khu Tây Nam bộ.
Trong kháng chiến chống Pháp, chùa là nơi nuôi chứa các đồng chí đảng viên của xã Đông Thành, có giai đoạn bí mật có giai đoạn công khai. Điển hình là các sư sãi cùng nhân dân Hóa Thành dướI sự lãnh đạo của Đảng vùng lên cướp chính quyền tháng 8/1945. Sau Cách mạng tháng Tám, chùa là địa điểm hộI họp và tiếp tục nuôi chứa cán bộ cách mạng. Bên cạnh đó, các nhà sư cùng phật tử đấu tranh vớI quân Pháp không cho chúng đóng đồn trong chùa.

Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa là nơi bảo vệ cán bộ cách mạng. Các sư bố trí lực lượng theo dõi địch ở Cái Vồn, Tam Bình, Trà Ôn. Khi có địch đi càn cơ sở báo cho sư cả biết để báo động cho cán bộ kịp thời sơ tán. Để đề phòng bất trắc, sư cả cho làm hầm bí mật tại chánh điện. Gặp địch đi càn, sư cả cho cán bộ trú ẩn dướI hầm bí mật hay ở trên liêu. Nơi đây còn là cơ sở đặt Trường Đảng, Ban tuyên huấn của tỉnh, ban in ấn …Vào các ngày lễ tết, các sư đón đoàn văn công của tỉnh về chùa phục vụ văn nghệ . Sân khấu được ghép bằng ván ngựa của bà con xung quanh tại sân chùa, đốt đèn măng sông. Đoàn diễn vở “ Giải phóng Phật đường” của hai tác giả Trọng Thu và Trần Mộng trong dịp tết Chol Chnam Thmây (năm 1963), thu hút đông đảo nhân dân đến xem. Tác giả lấy sự kiện có thật ở chùa Ô Mịch (Trà Vinh), địch phá chùa để xây dựng ấp chiến lược và Đảng đã lãnh đạo nhân dân Kinh - Khmer dùng ba mũi giáp công để giải phóng Phật đường. Hôm sau giặc càn vào phá chùa Toà Sen lập ấp chiến lược. Nhân dân Hoá Thành đã biến kịch bản sân khấu thành cuộc đấu tranh thật, không cho giặc phá chùa và đã thành công.

Từ năm 1948 đến 1967, các đồng chí lãnh đạo đảng của xã Đông Thành và một số các đồng chí Huyện uỷ Bình Minh được sư Thạch Rền nuôi chứa. Từ năm 1954, Sư Thạch Rền không còn trụ trì chùa, nhưng với uy tín của mình, sư Thạch Rền vẫn tiếp tục che giấu và bảo vệ an toàn cho cán bộ cách mạng.     Năm 1968, Sư cả Thạch Hanh lên trụ trì. Chùa Toà Sen tiếp tục là cơ sở cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Sư cả Thạch Rền và Sư cả Thạch Hanh không quản ngạI hy sinh, nguy hiểm đóng góp nhiều công lao cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương. Với thành tích đó, năm 1996, sư cả Thạch Rền được Thủ tướng Chính phủ truy tặng Bằng khen, sư cả Thạch Hanh được tặng huy chương Đại đoàn kết Dân tộc, Huân chương kháng chiến hạng nhất (1996), bằng khen của Mặt trận tổ quốc tỉnh Vĩnh Long.

Chùa Toà Sen được UBND tỉnh công nhận di tích cấp tỉnh (Quyết định số 892/QĐ-UB, ngày 08/4/2004)

Chùa Hạnh Phúc Tăng - tiếng Khmer là Sanghamangala - tọa lạc tại ấp Trung Trạch, xã Trung Thành, huyện Vũng Liêm. Theo các nhà sư và một số tín đồ cao niên kể lại, thì chùa này có niên đại cao nhất so với các chùa Khmer khác trên địa phận hai tỉnh Vĩnh Long – Trà Vinh. Ngôi chùa đầu tiên dựng bằng cây lá đơn sơ vào thế kỷ XIII. Sau nhiều lần trùng tu, ngôi chùa xây năm 1971. Lần trùng tu gần nhất vào năm 1991.Chùa có khuôn viên rộng 3 ha, quanh chùa bao phủ nhiều cây cao, bóng cả, tạo nên khung cảnh thâm nghiêm trầm mặc.

 

Ngôi chánh điện nền xây cao, lát gạch, tường bê tông kiên cố. Riêng phần mái ngói, lợp thành ba cấp và cấp trên cùng tạo ra độ dốc 45 độ. Hai đầu hồi là hai hình tam giác. Trên mỗI đầu cột đều có hình nữ thần (Kayno) làm gờ đỡ mái chạm khắc khá tỉ mỉ. Phía trước gian chánh điện là một hệ thống gồm nhiều ngọn tháp đựng linh cốt của các vị sư sãi nhiều đời và tro của tín đồ quanh vùng. Riêng ở khuôn viên chùa có các sima xây trên sân gạch, giống như các am nhỏ. Sima là nơi chôn các “hòn đá kiết giới” thiết lập ranh giới của sự tu hành.

Ở gian chánh điện bày trí các tượng phật: tượng phật lúc còn là Thái tử Tất - Đạt - Đa, tượng phật đi khất thực, tượng phật thiền định, tượng phật nhập Niết bàn. Hai bên bệ thờ còn có tượng Reahu đắp nổi.

 

Phía sau chánh điện là sala, xây theo kiểu nhà ngang,tường gạch mái ngói. Gian giữa Sala có bàn thờ phật quay về hướng đông. Đây là nơi các sư sãi, phật tử hội họp, tiếp khách và là nơi tiến hành lễ dâng cơm.

 Chùa Hạnh Phúa Tăng nằm trên quốc lộ 53 đường nốI liền hai tỉnh Vĩnh Long – Trà Vinh nên được nhiều người biết đến và thuận tiên cho khách tham quan. Ngôi chùa không rộng lắm, kiến trúc tương đối mới nhưng rất cổ xưa nếu xét về phương diện lịch sử - văn hóa.


Lịch sử ghi lại sự kiện năm Kỷ Mùi (1679) một đoàn người gồm khoảng 3.000 dân - binh Trung Hoa đi trên 80 chiến thuyền vượt biển đến Đà Nẵng đệ đơn xin chúa Nguyễn cho phép tỵ nạn chính trị. Chúa Nguyễn chấp nhận thỉnh cầu và cử người hộ tống đoàn trực chỉ về phương Nam.

Nhóm người này thực chất là những người Trung Hoa trung thành với triều đại nhà Minh. Khi nhà Minh suy tàn bị nhà Mãn Thanh từ phía Bắc tràn xuống tiêu diệt, họ không thần phục nhà Mãn Thanh nên tìm nơi lánh nạn. Do lo ngạI thế lực nhà Thanh nên đoàn người tìm cách chạy càng xa đất nước Trung Hoa càng tốt. Họ không dám dừng lại xứ đàng ngoài của chúa Trịnh vì sợ bị “dẫn độ” về nước. Ở đàng trong, chúa Nguyễn thuận cho nhóm người chạy nạn nhập cư nhưng để đề phòng trở ngạI về ngoạI giao với nhà Thanh, đồng thời có thêm nhân lực chinh phục đồng bằng sông Cửu Long nên chúa Nguyễn đưa họ về phương Nam.

Chúa Nguyễn cắt đặt cho nhóm của Tổng binh ba châu Cao - Lôi – Liêm là Trần Thượng Xuyên (tức Trần Thắng Tài ) định cư ở Biên Hòa, nhóm của Tổng binh Long Môn Trương Ngạn Địch định cư ở Mỹ Tho. Một nhóm khác tìm nơi sinh cơ lập nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long. Chúa Nguyễn đặt tên làng của người Hoa nhập cư là “làng Minh Hương”. Làng Minh Hương lúc đó mang ý nghĩa là “hương hỏa cho triều đại nhà Minh” (đến đời Minh Mạng, Minh Hương chuyển sang ý nghĩa là “quê hương của người Minh” cho phù hợp quan hệ bang giao với nhà Thanh).
Bằng tài năng, kinh nghiệm thương mại của cộng đồng Minh Hương việc buôn bán, kinh doanh ở Nam bộ phát triển nhanh chóng. Nông Nại Đại Phố (Biên Hòa) và Mỹ Tho đại phố lần lượt ra đời. Để quản lý hoạt động thương mại của người Minh Hương chúa Nguyễn cho phép Dương Ngạn Địch được quyền thu thuế khóa. Chín trường thu thuế ra đời, đặt rải rác từ Biên Hòa xuống Vĩnh Thanh Trấn.
Năm Thái Đức thứ 6 (1784) của Triều đại Tây Sơn, cộng đồng Minh Hương ở Vĩnh Long Trấn có 53 nhân khẩu, do Trần Tấn Lộc và Trần Thành Công lãnh đạo, việc thuế khóa do Thành Gia Định trực tiếp quán xuyến.
Năm Gia Long thứ tư (1805) phân xã Minh Hương ở Vĩnh Thanh Trấn chính thức ra đời. Ông Liêu Tấn Phụng được cử làm Hương trưởng. Việc thuế khóa vẫn còn lệ thuộc Thành Gia Định.
Năm 1811, ông Liêu Tấn Ngoạn cùng ông Trần Công Thái đệ đơn xin tách phân xã Minh Hương Vĩnh Thanh ra khỏi Thành Gia Định và nhập vào Trấn Vĩnh Thanh.
Làng Minh Hương tồn tại dướI hình thức đặc biệt, tương tự như “Lãnh sự quán”, không có địa giới hành chánh riêng biệt, người Minh Hương ở xen kẽ với dân cư của làng Việt. Trong giao dịch hành chánh làng Minh Hương quan hệ trực tiếp với Trấn, Dinh, không qua Tổng, Phủ. Ngược lại, Trấn, Dinh, sau này là, tỉnh, quản lý trực tiếp làng Minh Hương. Người Minh Hương có đầy đủ quyền sản xuất, kinh doanh, tạo sắm điền sản hệt người Việt và có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước. Đối với cộng đồng Minh Hương họ còn có nghĩa vụ đóng góp theo qui chế riêng của cộng đồng.
Khi trở thành đơn vị hành chánh trực thuộc Trấn Vĩnh Thanh ông Lâm Hạc Thanh đứng ra vận động xây dựng Minh Hương Hội Quán. Hội quán là nơi sinh hoạt cộng đồng mang đậm truyền thống của thương nhân Trung Hoa. Hội quán đồng thời là cơ sở tín ngưỡng. Như ở Gia Định có Minh Hương Gia Thạnh, Biên Hòa có miếu Quan đế, Hà Tiên có Miếu Quan Công, Định Tường có miếu Quan Đế... Lúc đầu Minh Hương Hội Quán ở Vĩnh Thanh thờ Phước Đức Chánh Thần. Năm 1834 do ảnh hưởng của tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu nên Hội quán Minh Hương đổi cách thờ tự. Thiên Hậu Thánh Mẫu được đưa vào thờ chính, phối tự cùng Phước Đức Chánh Thần và Chúa Sanh Nương Nương.
Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), xã trưởng Minh Hương Vĩnh Long, Trương Ngọc Bạch (anh ruột bá hộ Trương Ngọc Lang), xây dựng võ ca Minh Hương Hội quán.
Năm Tự Đức thứ 8 (1855), bá Hộ Trương Ngọc Lang trùng tu chính điện Minh Hương Hội Quán. Năm 1858, trong chuyến về thăm cố hương Trung Hoa, ông Trương Ngọc Lang thỉnh về ba bộ tượng, tôn trí tại Hội Quán.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm lục tỉnh Nam Kỳ, chúng áp đặt bộ máy cai trị ngoạI bang lên xứ sở này. Xã hội Nam kỳ vì thế có nhiều biến đổi sâu sắc. Cộng đồng Minh Hương cũng không nằm ngoài vòng ảnh hưởng ấy. Trong đó, về mặt hành chánh các làng Minh Hương bị xóa sổ, cư dân ở đâu phải nhập hộ khẩu vào địa phương đó. Các Hội quán Minh Hương vì vậy chỉ còn lại chức năng tín ngưỡng thuần túy.
Trong quá trình hình thành và phát triển cộng đồng người Minh Hương ở Vĩnh Long tuy lực lượng không đông, tiềm lực kinh tế không mạnh bằng cộng đồng Minh hương cư trú ở Gia Định, Biên Hòa, Mỹ Tho nhưng họ đã từng có hoạt động kinh doanh phát đạt, những thành tựu văn hóa có ý nghĩa lịch sử.
Hiện nay di tích Minh Hương Hội Quán rộng lớn vẫn tồn tại trên nền xưa ở phường 5, thị xã Vĩnh Long. Trong di tích lưu giữ nhiều hiện vật quí. Bên cạnh những hiện vật tín ngưỡng lưu truyền nhiều đời, còn có hơn 3.000 trang tư liệu Hán – Nôm, Việt ngữ, Pháp ngữ. Khối tư liệu này đa phần là Hán – Nôm, ghi nhận mọi mặt đời sống, từ giao dịch hành chánh với trấn Vĩnh Thanh, giao dịch thương mại, mua bán đất đai, tập tục thờ cúng... đến giá cả các loại hàng hóa thông thường, họp hành, bầu bán....Do tính cẩn thận, người xưa ghi chép tỉ mỉ mọi việc, đều đặn, liên tục từ lúc hình thành cộng đồng Minh Hương cho mãi đến những năm gần đây. Vì vậy, đây là khối tài liệu có giá trị về nhiều mặt rất cần được tiếp tục giữ gìn và khai thác.
Cũng ở trong di tích, còn tìm thấy nhiều hiện vật liên quan tới các nhân vật lịch sử gốc Minh Hương. Như bảng vàng của Vua Thiệu Trị tặng cho bà Liên Thị Tánh danh hiệu “Trinh tiết khả phong”; bảng vàng “Lạc Quyên Nghĩa Môn” vua KhảI Định ban cho gia đình ông Trương Ngọc Lang do có nhiều đóng góp về văn hóa xã hội như cải táng mộ cụ Võ Trường Toản từ Gia Định về Bến Tre, góp phần xây dựng Văn Thánh Miếu, Công Thần Miếu, chùa Long Phước....

Đầu năm 1928, ông Trương Như Thị cùng các chức sắc đạo Cao Đài tạo lập nhà tịnh Kim Linh. Nhà tịnh Kim Linh được lập tại nhà ông Trương Như Thị, thuộc xã Tân Long Hội, huyện Cái Nhum (nay thuộc huyện Mang Thít). Họ đạo ở đây theo hệ phái Tiên Thiên. Năm 1936, ông Trương Hoàng Ngự một chúc sắc Cao Đài hiến 7 công đất để xây dựng thánh tịnh mới. Năm 1936, thánh tịnh Ngọc Sơn Quang tạo lập xong.

Ngay từ năm 1931, bên cạnh các việc hành đạo, các chức sắc và các tín đồ Ngọc Sơn Quang có những hoạt động cách mạng bí mật. Năm 1936 thực dân Pháp niêm phong thánh tịnh Ngọc Sơn Quang. Sau Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940, nhiều chức sắc, tín đồ bị bắt bớ, lưu đày. Dù khó khăn như vậy nhưng Ngọc Sơn Quang vẫn hướng về cách mạng. Năm 1943, Đảng phân công đồng chí Trần Văn Sen phá bỏ niêm phong thánh tịnh Ngọc Sơn Quang, các hoạt động ở thánh tịnh Ngọc Sơn Quang diễn ra mạnh mẽ, các đoàn thể nơi đây hoạt động dướI sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, tháng 8/1945 các đoàn thể ở Ngọc Sơn Quang cùng nhân dân vùng lên giành chính quyền về tay nhân dân.

Trong kháng chiến chống Pháp là điểm tựa vững chắc của Cách Mạng. Nhiều đơn vị bộ đội, cán bộ lãnh đạo của Vũng Liêm, Mang Thít bám trụ nơi đây chỉ đạo phong trào của địa phương. Năm 1954 chi bộ Đảng của Thánh Tịnh Ngọc Sơn Quang ra đời chỉ đạo các hoạt động cách mạng của thánh tịnh.
Giai đoạn chống Mỹ cứu nước nhiều hoạt động cách mạng diễn ra có lúc âm thầm bí mật, có lúc diễn ra công khai trực diện với kẻ thù giành thắng lợi lớn trên nhiều mặt. Nổi bật là sự kiện Thánh Tịnh Ngọc Sơn dựng đài Ngưỡng Thiên - tổ chức lễ Cầu nguyện Hòa Bình. Sự kiện này diễn ra từ ngày 12 đến ngày 16 tháng năm 1970. Đại lễ quy tụ 18 Hội thánh ở miền Tây về tham dự. Lễ hội đã biến thành diễn đàn chống xâm lược Mỹ, khẳng định Việt Nam nhất định hòa bình độc lập.
Sự kiện này gây tiếng vang trong nước và quốc tế. Nhiều hãng thông tấn nước ngoài đã đến Ngọc Sơn Quang trực tiếp đưa tin ra toàn thế giới. Kẻ thù tìm mọi cách triệt phá buổI lễ, đàn áp tôn giáo. Đài Ngưỡng Thiên vẫn đứng vững trong sự đoàn kết bảo vệ của tín đồ, của quần chúng nhân dân. Sự kiện này làm cho kẻ thù run sợ.
Sự kiện thứ hai cũng tạo ra tiếng vang lớn diễn ra tháng 7 năm 1973. Tín đồ, chức sắc Ngọc Sơn Quang trực tiếp lên gặp quận trưởng Minh Đức, tỉnh trưởng Vĩnh Long, chỉ huy Vùng bốn chiến thuật, Bộ nộI vụ, Phủ Thủ tướng, Tối cao pháp viện, Bộ chỉ huy Cảnh sát quốc gia của ngụy,… đấu tranh quyết liệt chống bắt lính. Thánh tịnh tổ chức truy điệu trọng thể ba tín đồ bị địch bắt giam, bị thủ tiêu vì chống quân dịch. Trước làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của Ngọc sơn quang, địch phải nhượng bộ thả 181 tín đồ bị giam giữ, cam kết chấm dứt các hoạt động bố ráp, lùng sục Thánh tịnh. Hàng năm đến ngày 14/11 Ngọc Sơn Quang tổ chức trọng thể kỷ niệm lễ cầu nguyện Hoà Bình.
Thánh tịnh Ngọc Sơn Quang được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (Quyết định số 1811 QĐ/BT ngày 31/8/1998).

Nhiều sách báo trước đây đã nói đến miếu Công Thần Vĩnh Long, nhưng tất cả đều bị bao phủ bởI các huyền thoại. Có người nói ngôi miếu này xây dựng vào thời Gia Long, thờ 85 vị Trung Hưng Công thần. Rồi có tác giả chọn 85 vị Công Thần triều Gia Long thờ ở miếu Hiển Trung, Gia Định gán ghép vào.

Sự thật, miếu Công Thần Vĩnh Long là hậu thân miếu Hội Đồng tỉnh Vĩnh Long. Theo Đại Nam nhất thống chí, miếu Hội Đồng Vĩnh Long xây dựng năm Minh Mạng thứ 17 (1837) tại thôn Thanh Mỹ Đông, huyện Vĩnh Bình. Dân gian thường gọi ngôi miếu này là Đình Khao do tương truyền các quan cựu trào thường chọn nơi này để yến ẩm, khao thưởng. Miếu Hội Đồng là thiết chế cấp tỉnh thời nhà Nguyễn. Các vị thần được thờ tại miếu Hội Đồng được triều đình nhìn nhận bằng sắc phong. Hàng năm các quan đầu tỉnh thay mặt triều đình đến tế, theo điển lễ.
Thời cực thịnh của miếu Hội Đồng Vĩnh Long chỉ kéo dài được 30 năm thì thực dân Pháp đã thôn tính và đô hộ. Trong kế hoạch bình định, chúng lấy cớ thiếu gỗ xây dựng dinh Tham Biện nên đã phá hủy ngôi miếu này. Tuy không may mắn như Văn Thánh Miếu nhưng lúc đó có người gom được tất cả đồ thờ tự, đặc biệt là 85 đạo sắc phong của miếu Hội Đồng đem về gởI tại đình làng Thiềng Đức.

 Khoảng năm 1918, tức là sau đại chiến thứ nhất, nhờ sự vận động cùa bà Trương Thị Loan (bà Phủ Y) và bà Lê Thị Danh, chính quyền đô hộ thời bấy giờ đã cho phép khôi phục lại miếu Hội Đồng Vĩnh Long. Ông Nguyễn Văn Kỷ đã hiến một mẫu đất, bà Trương Thị Loan đã hiến 3.000 đồng, số tiền khổng lồ thời bấy giờ, để xây dựng ngôi miếu mới. Miếu mới cách vị trí cũ khoảng một cây số nhưng gần thị xã hơn.

Để chính quyền đô hộ chấp nhận, giới thân hào nhân sĩ thời bấy giờ đã thờ thêm danh sách những thanh niên ở Vĩnh Long bị bắt đi lính tham gia đại chiến bỏ mạng bên trờI Tây. Đồng thời bà Trương Thị Loan cũng đã gởI của hương hoả thờ cha chồng bà là ông Nguyễn Văn Phong, người Vĩnh Long, nguyên là Tổng đốc Thuận Khánh thời Thành Thái. Do đó, ngôi miếu mới này được gọi là miếu Công Thần. Từ đó có nhiều huyền thoạI: miếu Công Thần là ngôi miếu có từ thời Gia Long, thờ 85 vị công thần triều Gia Long ... Chúng ta hiểu những huyền thoạI này được tung ra để chính quyền đô hộ yên tâm chấp nhận vì thời bấy giờ thực dân đề cao thuyết “Pháp - Việt nhất gia”. Do những huyền thoạI này mà trong miếu Công Thần Vĩnh Long có câu đối đầy khí phách hào hùng:
            Phù Lê Nguyễn bát thập ngũ nguyên huân, tráng khí Tượng Châu thiên dĩ bắc.
            Bình Chiêm Lạp bách thiên dư chiến trận, danh phiêu Lân các hải nhi nam.
            (Phò Lê Nguyễn, tám mươi lăm vị nguyên huân, khí mạnh Tượng Châu cũng như trờI phía bắc. Bình Chiêm Lạp hơn ngàn trận, danh nêu ở gác Lân mặc dù chỉ ở vùng biển phía Nam.)
Từ khi tái thiết, miếu Hội Đồng Vĩnh Long có tên chính thức là “Công Thần Linh Miếu”, trở thành nơi thờ phượng dân gian không còn mang tính chính thống của nhà Nguyễn nữa.
Miếu Công Thần Vĩnh Long còn giữ được 85 đạo sắc phong của nhà Nguyễn cấp thời Thiệu Trị và Tự Đức; Trong đó có sắc của Thiệu Trị, có sắc của Tự Đức thay lờI Thiệu Trị, cũng có sắc của Tự Đức. Thế nhưng đây là phó bản thay thế bản chính đã mất vào năm 1843. Đặc biệt, có sắc viết đầu năm Thiệu Trị thứ bảy, nhưng ghi ngày tháng cuối năm, lúc ấy Thiệu Trị đã băng hà, Tự Đức đã lên ngôi nhưng vẫn còn sử dụng niên hiệu Thiệu Trị. Có sắc viết và ghi cuốI năm Thiệu Trị thứ bảy. Lúc ấy, Thiệu Trị đã băng hà nên tuy vẫn dùng niên hiệu Thiệu Trị mà lời lẽ thì của Tự Đức, thay mặt vua cha mình.    
85 đạo sắc ấy phong cho 34 thần hiệu. Có thần hiệu phong cho một vị thần nhưng cũng có thần hiệu phong cho hai hoặc ba vị thần:
            - 4 đạo sắc gia phong cho 4 Nhiên Thần Thượng Đẳng.
            - 4 đạo sắc gia phong cho 4 Nhiên Thần Trung Đẳng.
            - 5 đạo sắc gia phong cho 5 Nhiên Thần Hạ Đẳng.
            - 5 đạo sắc gia phong cho 5 Nhân Thần Thượng Đẳng
            - 11 đạo sắc gia phong cho 11 Nhân Thần Trung Đẳng.
            - 5 đạo sắc gia phong cho 5 Nhân Thần Hạ Đẳng.
Đây là hệ thống thần linh ở địa phương, gồm có những biểu tượng văn hóa, những biểu tượng khí thiêng sông núi. Nếu là nhân thần thì cũng là những danh nhân sinh tiền có công với dân tộc, có công với địa phương. Nếu danh nhân xa xưa nhất thì phải kể đến Phi Vận Tướng quân Nguyễn Phục, gốc là thầy dạy học và cũng là một công thần triều vua Lê Thánh Tông. Ông được xem là một vị thần phù hộ người đi biển đã đưa đám lưu dân vào Nam lập nghiệp, ông được phong Trung Đẳng Thần. Kế đến là Đô đốc Bùi Tá Hán (Nghệ An) người khai phá vùng đất Thừa Thiên, đời Lê Anh Tông. Tham tướng Lê Văn Chính, người khai phá vùng Phú Yên, đời chúa Nguyễn Hoàng,.... đều được phong Thượng Đẳng Thần. Những danh nhân có công lớn với Nam bộ như Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh, Chính Thống Nguyễn Cửu Vân, Phụ Quốc Đô đốc Trần Thắng Tài .... cũng được phong Thượng Đẳng Thần. Các danh nhân có công với vùng đất Vĩnh Long như Điều Khiển Nguyễn Cư Trinh, Chưởng cơ Nguyễn Khoa Kiên, Hữu Phủ Tống Phước Hiệp, Thống Suất Trương Phước Du cũng được phong Trung Đẳng hay Hạ Đẳng Thần. Còn các biểu tượng văn hóa (Nhiên Thần) cũng được chia ba bậc: Thượng, Trung và Hạ. Các biểu tượng này đủ màu sắc: Việt, Hoa, Chăm. Nhìn chung, dù Nhân Thần hay Nhiên Thần cao thấp khác nhau là do công trạng lúc sinh tiền hay mức độ ảnh hưởng trong dân gian.
Miếu Công Thần Vĩnh Long hiện nay ở tại phường 5, thị xã Vĩnh Long, bên bờ sông Cổ Chiên. Ngôi miếu gồm có bốn nóc: chính tấm, võ qui, võ ca và nhà khách. Tuy nhiên võ qui, võ ca và chính tấm đều làm theo kiểu “tứ trụ”. Bộ giàn trò bằng danh mộc, kiên cố nhưng đơn giản. Ngôi miếu có tường gạch bao quanh, nền lót gạch, mái lợp ngói âm dương . Bên trong miếu công thần có rất nhiều hoành phi, câu đối từ các địa phương tiến cúng, có các nhân vật ở miền Trung, miền Bắc. Riêng về cách bày trí thờ phượng không khác một ngôi đình làng.
            Mỗi năm tại miếu Công Thần Vĩnh Long có các ngày lễ:
            1. Lễ Thượng Nguyên và lễ Bầu Ông (rằm và 16 tháng giêng).
            2. Lễ Hạ Điền (rằm và 16 tháng năm).
            3. Lễ Trung Nguyên (rằm và 16 tháng bảy)
            4. Lễ Thu Tế và Trung Thu (rằm và 16 tháng tám)
            5. Lễ Thượng Điền và Hạ Nguyên (rằm và 16 tháng mườI)
            6. Lễ Chạp Miếu (rằm và 16 tháng chạp) phải
            7. Lễ Tất Niên và Dựng Niêu (25 tháng chạp).
Nhìn chung, nguồn gốc nghi lễ tại miếu Công Thần rất phức tạp. Lễ Hạ Điền và Lễ Thượng Điền là nghi lễ của một đình làng. Ngày ấy dân làng tế Thần Nông, vũ sư, phong bá và các vị thần linh khác để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bộI thu. Còn lễ Bầu ông là nghi lễ thời khai hoang phá rừng còn lưu truyền. Theo lờI người xưa kể lại, thời đó con người không ai dám làm chức Trùm Cả, tức là chức vụ đứng đầu làng, chức vụ này phải dành cho cọp. Nếu ai bạo gan, trái điều kiêng kỵ thì cọp sẽ về móc họng giết chết. Do vậy hàng năm Hương chức phải làm lễ tế “ông Trùm Cả” và dâng cho “Ông” một tờ cử hương chức. TốI hôm đó ông sẽ về nhận lễ vật và trả tờ cử nhiệm kỳ qua. Tục lệ này có vẻ dị đoan nhưng mục đích nhằm trấn an dân làng bám trụ phá rừng. Đặc biệt, trong một năm chỉ có Lễ Xuân tế là ngày lễ quan trọng nhất tại miếu Công Thần. Ngày lễ này kéo dài 4 ngày: 14 rằm , 16, 17 tháng hai, có hàng ngàn bà con trong thị xã và các nơi khác về dự. Lễ Xuân tế là dịp bà con đến lễ bái các vị thần linh cầu quốc thái dân an, là dịp bà con lễ bái các vị tiền nhân với ý niệm uống nước nhớ nguồn. Đây cũng là dịp cầu an làng xóm nên ngoài các nghi lễ truyền thống còn có các nghi lễ dân gian mang màu sắc phật giáo, lão giáo. Lễ Xuân Tế là dịp bà con họp mặt vui chơi đàm đạo, xem hát bội.
Có thể nói miếu Công Thần Vĩnh Long là một “tượng đài” kỷ niệm 300 năm văn hóa vùng đất này. Do đó, ngày 31 tháng 8 năm 1998, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra Quyết định số 1811 QĐ công nhận miếu Công Thần là di tích văn hóa cấp quốc gia.

Đình Tân Hoa thuộc huyện Vĩnh Bình, Phủ Định Viễn, nay ở tại ấp Tân Hưng, xã Tân Hòa, thị xã Vĩnh Long. Đình Tân Hoa nằm bên bờ sông Tiền, ngó mặt ra vàm rạch Cái Đôi nên dân thường gọi là đình Cái Đôi.

Theo các bô lão ở địa phương kể lại thì khoảng giữa thế kỷ 18 có ông Nguyễn Tự Tôn, một quan chức đã đứng ra chiêu mộ dân nghèo thành lập một thôn nằm cạnh sông Tiền. Do thôn này sinh sau đẻ muộn so với các thôn khác như: Vĩnh Tòng, Trường Xuân... nên đầu thế kỷ 19 khi Trịnh Hoài Đức viết Gia Định Thành thông chí đã chú thích hai chữ “thỉ lập” (mới lập) bên cạnh tên làng này. Đình Tân Hoa được xây cất sau khi việc khai phá cơ bản hoàn thành. Ngày nay chúng ta chưa có tài liệu chứng minh niên đại xây dựng đầu tiên của ngôi đình. Nhưng hiện nay đình Tân Hoa còn lưu nhiều hiện vật như bài văn tế thần Thành Hoàng Đại Vương, dấu ấn tín ngưỡng có từ thế kỷ 18... Đặc biệt nhất đình còn một biển hiệu cổ khắc ba chữ Tân Hoa Đình theo lốI triện làm trong năm Mậu Ngọ (1798) kích thước to lớn, chứng tỏ lúc đó quy mô đình Tân Hoa không nhỏ.

Sau khi ông Nguyễn Tự Tôn mất, con ông là Nguyễn Văn Niệm cùng dân làng tiếp tục khai khẩn đất hoang và đến đời cháu là Nguyễn Bửu đất đai đã phì nhiêu, làng xóm giàu có no đủ. Ông Nguyễn Văn Bửu đã vận động dân làng trùng tu tôn tạo đình Tân Hoa. Do những công lao đặc biệt ấy triều đình đã tặng ông Nguyễn Văn Bửu hàm Bá Hộ, khi mất được dân làng tôn Hậu Hiền. Còn ông của ông là Nguyễn Tự Tôn cũng được tôn Tiền Hiền. Cả hai được tòng tự bên cạnh thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.
Vào khoảng đời Thiệu Trị (1841 – 1847) tên làng Tân Hoa do trùng tên húy bà Hoàng Thái hậu Hồ Thị Hoa (vợ vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị) nên bị đổi thành Tân Hóa. Đến ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức thứ năm (08/01/1853) làng Tân Hóa cũng như bao làng khác ở trong vùng đều đồng loạt được sắc phong Bổn cảnh Thành Hoàng chi thần. Thế nhưng, văn bản quý giá này không tồn tại lâu dài, năm 1862 quân viễn chinh Pháp đã nã súng thôn tính các tỉnh miền Đông Nam bộ và tỉnh Vĩnh Long thì sắc thần Tân Hoa đã bị thiêu hủy. Do đó, khi thực hiện Hiệp ước năm 1862 tỉnh Vĩnh Long được trả lại cho triều đình Huế thì chính quyền đương thời đã nhanh chóng báo cáo và Bộ Lễ đã cấp tốc tái cấp cho làng Tân Hoa một bản sao sắc thần này. Bản sao thần sắc là một tờ giấy trắng, loại giấy lệnh, viết nguyên văn đạo sắc thần dướI có dòng chữ “Lễ Bộ cung lục, Tân Hoa xã tuân chiếu phụng tự”. Bên dướI chỉ đóng dấu “Lễ Bộ chi ấn”, chớ không giống các đạo sắc thần thường thấy. Đây là một việc làm nhằm mục đích tạo điều kiện bảo tồn văn hóa, mang tính chất đặc biệt.
Vào giai đoạn đầu của thời Pháp thuộc, làng Tân Hóa nhập với làng Tân Hội, Tân Nhơn, lấy tên mới là Tân Hòa. Do đó vào năm Canh Tuất (1910) đình Tân Hóa được trùng tu và lấy tên là “Tân Hoà linh miếu”. Hiện nay, quy mô đình Tân Hòa là quy mô của đợt tái thiết này. Tất cả gồm có sáu nóc làm theo kiểu xếp đọi, mang dáng dấp chung đình làng Nam bộ nhưng cũng có những nét riêng. Chánh điện là một ngôi nhà tứ trụ, được nớI rộng ra bốn phía bằng kèo đấm và tám kèo quyết. Còn các ngôi nhà khác như võ ca, võ quy, hậu điện... đều làm theo kiểu ba gian hai chái. Nền đình xây bằng đá chẻ, lần trùng tu sau này đã xây tường gạch bao quanh và cũng không giấu được dấu ấn mỹ thuật của thời gian này là các hoa văn Pháp trên đầu cột ngoài hàng hiên phía trước. Mái đình được lợp bằng ngói âm dương, nốI liền nhau bằng hệ thống máng xối. Các bờ nóc, bờ mái được xây cao và gắn nhiều hình trang trí bằng sành như: liễn long tranh châu, cá hóa long, phượng hàm thư, rồng khoanh, bát tiên, ông Mặt trờI và bà Mặt trăng. Đây là những hình gốm sản xuất tại Chợ Lớn vào những năm đầu thế kỷ này và đã làm cho nóc đình Tân Hoa khác với những nóc đình khác. Đáng chú ý nhất là bộ giàn trò bằng gỗ quý, cột đình to, một người ôm không xuể. Lòng căn đình rất rộng từ ba đến bốn thước. Các bộ phận chịu lực như xuyên, trính, kèo... đều làm theo kiểu lục lăng, võ đậu, đùi ếch... nên cứng cáp. Đặc biệt, các bộ phận vừa kể ở tại võ qui, nơi tập trung đông người thường xuyên được chạm khắc theo những họa tiết mỹ thuật. Thí dụ như bốn cây kèo đùi ếch võ đậu thông thường thì được đục đẽo thành hình những con rồng. Thân kèo là thân rồng. Những lá dung đỡ cây đòn tay cuốI tầng mái biến thành những đầu rồng, có thể nói đây là nét lạ về kỷ thuật, đẹp về thẩm mỹ mà khả năng chịu lực không hề suy giảm.
Trong đình Tân Hoa còn giữ được hàng chục bộ bao lam, hàng chục hoành phi, câu đối, rất nhiều tự khí như: lỗ bộ, lư, đỉnh, hương án, khánh thờ,... Đặt biệt, những tác phẩm chạm trỗ đều do thợ Tân Nhơn (thợ ở địa phương) thực hiện.
Đình Tân Hoa còn có điểm rất lạ nữa là giữa sân đình không có đàn Thần Nông mà chỉ có một tấm bình phong đắp hình “long mã phụ đồ” như một ngôi đình Thừa Thiên. Còn Thần Nông lại được thờ trong một ngôi miếu con ở góc bên. Tục lệ này cũng khác lạ với những ngôi đình khác ở Nam Bộ.
Mỗi năm, tại đình Tân Hoa có các ngày lễ:
            - Lễ Thượng Điền vào ngày 11 và 12 tháng 9 âm lịch.
            - Đặc biệt đình Tân Hoa còn giữ lệ vía Thần Thành Hoàng, tức ngày Kỳ Yên (cũ) khi mới thành lập đình, trước khi được nhà Nguyễn chuẩn mực hóa.
            - Nhưng ngày lễ lớn nhất của ngôi đình này là ngày Hạ Điền - Kỳ yên, từ ngày 11 – 12 và 13 tháng ba âm lịch hàng năm.
Đình Tân Hoa là một công trình kiến trúc mang tính nghệ thuật minh chứng cho một giai đoạn lịch sử khá dài. Trải bao thế hệ thăng trầm, từ khi cha ông chúng ta bắt đầu khai hoang lập ấp. Thế nhưng, mặc dù trong hoàn cảnh nào cha ông chúng ta vẫn cố gắng bảo tồn di sản văn hóa. Đình Tân Hoa được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa năm 1998.

Hàng năm, vào ngày mồng ba và mồng bốn tháng giêng, bà con các nơi về Trà Ôn vui Tết và tham dự lễ giỗ quan Tiền quân Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn (1763 – 1820).

Ông Nguyễn Văn Tồn là người Khmer, quê làng Nguyệt Lãng, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Ông tên thật là Thạch Duồng. Thuở nhỏ ông theo Chúa Nguyễn, hết lòng tận tụy trung thành nên được cho chuyển làm Cai đội và cho phép chuyển sang mang “quốc thích”. Từ năm 1786 đến 1789, ông theo chúa Nguyễn chạy sang Vọng Các (Băng cốc). Khi Nguyễn Ánh khá mạnh trở về nước, ông được phân công đi chiêu mộ thành lập một đội quân người Khmer và ông lãnh nhiệm vụ thống quản đội quân đó. Ông lại được lệnh theo Võ Tánh giữ thành Bình Định, bị Tây Sơn bắt. Nhưng ông hết dạ trung thành với chúa Nguyễn tìm cách trốn về Nam.

 
Năm Gia Long thứ nhất (1802), ông được thăng Cai Cơ, trấn giữ đồn Trà Ôn (thuộc Trấn Giang), kiêm quản phủ Trà Vinh và Măng Thít (thuộc Vĩnh Trấn); Ông có công giúp nhà Nguyễn dẹp loạn ở biên giới Tây Nam. Năm Gia Long thứ bảy (1808) và năm Gia Long thứ mườI (1811) hai lần ông được triệu về kinh để nhận ban thưởng và được thăng Thống Chế, Dung Ngọc Hầu. Công đức lớn của ông là giúp dân vùng Trà Ôn, Trà Vinh, Măng Thít khai khẩn đất hoang, thành lập xóm làng. Ngoài ra, năm 1819, ông được ThoạI Ngọc Hầu phân công đốc thúc dân phu đào kênh Vĩnh Tế. Do lao tâm, lao lực, ông bị bệnh mất đầu năm Canh Thìn (1820). Triều đình cử người đến ban cấp, điếu phúng. Ông được truy tặng Tiền Quân Thống Chế, được tống táng theo nghi lễ. Sau đó triều đình còn cấp mộ phu quét dọn mồ mả, từ đường. Theo nhiều tài liệu lịch sử, vào mùa hè năm canh Thìn (1820) nước ta bị một trận dịch lớn chết hàng vạn người. Đầu tiên trận dịch bắt đầu từ Trấn Tây, lan qua Nam Bộ rồI lan ra tận Thừa Thiên. Trong lúc nguy ngập này, ông được người dân địa phương xem là một vị thần linh bảo hộ. Ông được người dân địa phương xem là một vị Tiền hiền (người Hoa xem ông như ông Bổn ở địa phương), được thờ cúng dướI dạng “Báo hổ tư nguyên”.
Theo Đại Nam liệt truyện, Thống Chế Nguyễn Văn Tồn có một người con Yên Vy, làm Vệ úy ở đồn Tịnh Biên (Châu Đốc). Có người tố cáo Vy đã theo Lê Văn Khôi. Nhưng rồI Vy mất, Minh Mạng nghĩ tình cha con nên bỏ qua, không truy cứu. Có lẽ do nguyên cớ ấy nên hậu duệ của ông bị suy sụp, việc hương hỏa phó mặc cho dân địa phương. Mãi đến đầu thế kỷ XX, dân địa phương nghĩ công đức, trùng tu miếu mộ và thành lập hội “ Mỹ Thanh” để lo việc hương hỏa cho vị công thần này. Từ đó đến nay lăng Thống Chế Điều Bát được trùng tu tôn tạo vào các năm 1937,1953, 1960, 1994 và gần đây nhất là năm 2005.
Hiện nay lăng và mộ phần quan Thống Chế Điều bát cùng phu nhân ở tại giồng Thanh Bạch, ấp Mỹ Hòa, xã Thiện Mỹ, cách thị trấn Trà Ôn khoảng hai cây số. Toàn khu vực này ở trên khu đất trống trảI, xung quanh có nhiều cây cao bóng mát và hoa quả tươi đẹp. Khu miếu thờ có ba ngôi: chính điện, võ ca và nhà khách. Tất cả các công trình kiến trúc đều làm bằng gỗ, lợp ngói, nền gạch, vách gạch. Trong miếu thờ vợ chồng Thống Chế Điều Bát và các danh nhân như Tả Quân Lê Văn Duyệt, Bình Tây Tướng quânTrương Định, Bình Tây Phó tướng Nguyễn An (Phó tướng Trương Định, sau khi thất bạI ở Gò Công, trở về tiếp tục nổi dậy và hi sinh Tại Trà Ôn). Anh hùng Nguyễn Trung Trực, Quan Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn được nhà Nguyễn phong Trung đẳng Thần vào năm 1944.
Phần mộ Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn và phu nhân làm theo kiểu song hồn, nằm phía sau lăng. Xung quanh mộ có tường hoa, có bình phong, trụ liễu,... trang trí hình lá, giao long và có cặp kỳ lân đứng hầu. Trên rặng liễu có câu đối ngắn đã thể hiện được đức độ người đã mất:
                                    Hoa di cộng ngưỡng
                                    Mân Quảng đồng tri ân
           (Người Hoa, người Khmer đồng ngưỡng mộ
           Người Phúc Kiến, người Quảng Đông đều nhớ ơn).
           Hàng năm, tại lăng Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn có các ngày lễ:
           - Giỗ Tiền Quân phu nhân: 16 và 17 tháng hai âm lịch.
           - Giỗ Phó Soái Nguyễn An, giỗTiền Hiền và Hậu Hiền: 20 tháng 12.
Nhưng ngày lễ quan trọng nhất là ngày giỗ quan Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn vào ngày mồng ba và mồng bốn tháng giêng âm lịch. Trong các ngày này, hàng ngàn người Việt, Hoa, Khmer ở vùng Trà Ôn, Cầu Kè,Trà Vinh, Sóc Trăng... về tham dự. Lễ giỗ quan Thống Chế mang ý nghĩa là lễ cầu phước vào những ngày đầu xuân. Ngoài ra, người dân đến lễ bái còn có ý nghĩa uống nước nhớ nguồn. Do đó, tuy là lễ giỗ nhưng cũng có đầy đủ nghi tiết: Túc Yết, Chánh Tế, đế Tiền Hiền, Hậu Hiền, xây chầu, Đại BộI và Hát Bội. Ngoài ra, vì đây là những ngày đầu xuân nên bà con người Hoa thường tổ chức múa lân, bà con ngườI Khmer trình diễn nhạc ngũ âm hoặc múa hát theo phong cách của họ. Quan Thống Chế Điều Bát Nguyễn Văn Tồn trở thành vị phúc thần của ba dân tộc: Việt, Hoa và Khmer tại Trà Ôn.
Bộ Văn hóa Thông tin đã quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa (Quyết định số 310 QĐ ngày 13/2/1996).

Thất Phủ Miếu là bảy phủ: Ninh Ba, Phước Châu, Chương Châu, Truyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu và Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) của các tỉnh như: Trực Lệ, Phước Kiến và Quảng Đông. Vào đời Thanh, có rất nhiều người Hoa ở các các địa phương vừa kể sang nước ta lập nghiệp nên nhà Nguyễn cho phép họ lập hội Thất Phủ, tượng tự như hội Hoa kiều ngày nay.

Căn cứ vào tên gọi, chúng ta biết miếu Thất Phủ tại Vĩnh Long có từ thời Nguyễn. Thời đó, chợ Vĩnh Long phố xá tấp nập. Theo Đại Nam nhất thống chí, hai mặt chợ Vĩnh Long đều giáp sông, phố xá liên tiếp, trăm mốI hàng hóa tấp nập đủ cả, chạy dài năm dặm, ghe thuyền đậu đầy bến sông. Có đình miếu thờ thần rực rỡ, đờn ca náo nhiệt, là chỗ phố phường lớn. Như thế vàm sông Long Hồ, trước mặt miếu Thất Phủ hoặc miếu Minh Hương là bến thuyền nên họ chọn nơi này đặt Hội quán giao tiếp.

Đến thời Pháp thuộc, số người Hoa đến Vĩnh Long làm ăn ngày một đông. Do yêu cầu lúc đó, những người Quảng Đông, Triều Châu tách ra lập bang hội riêng nên những người Phúc Kiến còn lại vào năm 1872 đã tái thiết miếu Thất Phủ, đổi lại là “Vĩnh An Cung”, để làm Hội quán của bang mình.
Thất Phủ hội quán (Vĩnh An Cung) ở địa chỉ Khu A, phường 5, thị xã Vĩnh Long ngày nay. Đây là công trình kiến trúc của nhóm thợ tài hoa gồm mườI người từ Phúc Kiến sang, đứng đầu là công trình sư Hà Tạo. Tất nhiên suốt giai đoạn xây dựng (từ năm 1892 đến 1909) họ phải có sự giúp sức của nhiều thợ khác như: thợ mộc xây dựng, thợ đá, thợ hồ, trang trí, thợ sơn thếp, họa sĩ, thợ cắt sành và thợ mộc trang trí.
Miếu Thất Phủ làm theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Phía sau là chính điện, phía trước là tiền đường, hai bên là đông sương và tây sương (nhà đông và nhà tây, người Việt thường gọi là đông lang và tây lang). Diện tích xây dựng khoảng 800 m2, xung quanh được bao kín bởI những vách gạch kiên cố. Để một khoảng diện tích to rộng như thế ấy có đầy đủ ánh sáng, các công trình sư đã cho chừa những khỏang sân trống. Tuy các khu vực chính nằm xa nhau nhưng có thể thông hành qua lại nhờ các nhà nốI gọi là “hà cầu” (hà kiều), tức xem những sân trống đó là ao sen và những nhà nối ấy là những cây cầu bắc qua ao sen.
Theo truyền thống xây dựng của Trung Quốc, mái Thất Phủ miếu lợp ngói âm dương được phong tô kỹ lưỡng. Chân mái ngói được viền một loại ngói đặt biệt có tráng men màu xanh. Đứng trước sân nhìn vào, nét đặc biệt nhất của nghệ thuật kiến trúc vùng Phúc Kiến cũng như nghệ thuật kiến trúc của miếu Thất Phủ là mái ngói cong vút và tầng mái gian giữa cao hơn tầng mái của hai gian bên. Một điểm đặc biệt nữa là miếu Thất Phủ xây dựng theo kiểu cung đình, có năm cửa cái. Hai ô cửa tượng trưng mặt trờI, mặt trăng; trong miếu có nhiều hình ảnh cố sử.
Bộ giàn trò miếu Thất Phủ bằng gỗ quý. So với các công trình kiến trúc của người Việt (Nam bộ) thì bộ giàn trò này rất mỹ thuật và kiên cố. Tất cả các bộ phận trong chịu lực trong ngôi miếu như: vì, xuyên, trính, các con kê hoặc con đội đều chạm hình voi, sư, lân, chậu hoa, chùm trái,... Các bộ phận này chạm trổ tinh vi, vừa mang tính hiện thực, vừa cách điệu, lại được sơn ngũ sắc hoặc thếp vàng. Thỉnh thoảng một vài nơi giữa những bộ phận chạm trỗ tinh tế ấy cũng có những khoảng trống, là chỗ để các họa sĩ đặt lên những bức tranh nhân vật cố sử. Do đó, khu vực này cầu kỳ nhưng không nhàm chán. Có thể nói đây là công trình mỹ thuật xuất sắc chẳng những đối với các công trình của người Việt mà còn của người Hoa nữa.
Trong miếu có ba bàn thờ chính, bàn thờ giữa là khánh thờ Quan Thánh Đế Quân, Quan Bình Thái Tử, Châu Xương Tướng quân. Khánh thờ bên tả thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Khánh thờ bên hữu thờ Phước Đức Chánh Thần. Phước Đức Thánh Thần có hai vị Chiêu Tài Đệ Tử, Thiên Hậu Thánh Mẫu có hai thần vị Thiên Lý Nhãn (thấy ngàn dặm) và Thuận Phong Nhĩ (nghe ngàn dặm) hầu cận. Trong vách hông có tượng ngựa xích thố và Mã đầu Tướng quân của Quan Công. Ngoài ra còn có bàn thờ Phật Quan Âm, Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Di Lặc, Hộ pháp Long Thần,... nhưng mang tính chất tín ngưỡng dân gian nhiều hơn tôn giáo.
Các tượng thờ kể trên đa số bằng gỗ, có một số bằng đồng, gốm sứ. Mặc dù bằng chất liệu gì thì các hiện vật này cũng đều tạo hình chân phương và sinh động, mô tả được cái nộI tâm của nhân vật ấy. Các tượng thờ này được sơn màu hoặc thếp vàng theo quy ước.
Nội cung Vĩnh An Cung trang trí tuyệt đẹp. Có thể nói không đâu có đến mấy chục bộ bao lam, câu đối, hoành phi chạm lộng tinh tế, sơn son thếp vàng chói lọi như ở đây. Theo ký hiệu khắc trên các tác phẩm, đa số các hiện vật đều do các lò thợ ở Tân Giai, Tân Nhơn thực hiện. Các dạng hoành phi, câu đối ở miếu Thất Phủ đều có nét chữ rất đẹp. Một bức hoành khắc bốn chữ “Quan Thánh Phu Tử” được đem đi triển lãm ở hội chợ các nước thuộc địa tại Marseille (Pháp) năm 1922, được huy chương đồng.
Hàng năm, tại miếu Thất Phủ có các ngày vía như ngày vía bà, vía Phước Đức Chánh Thần, tam Nguyên, Tứ Quý; đặt biệt nhất là ngày vía Ông (13 tháng giêng và 13 tháng năm), ngày Tất Niên (15 tháng 12), có hàng ngàn người đến chiêm bái, chẳng những đã thu hút bà con người Hoa mà còn người Việt ở địa phương nữa. Người ta đến chiêm bái Quan Thánh Đế Quân, một biểu tượng trọng nghĩa tuyệt vờI, một biểu tượng nhân dũng, tiết nghĩa, thuỷ chung,... Bên cạnh đó, Thiên Hậu Thánh Mẫu và Phước Đức Chánh Thần là những vị thần phù hộ họ đi ra nước ngoài, những vị thần phù hộ họ làm ăn sinh sống. Quan Âm Bồ Tát cũng là Thiên hậu Thánh Mẫu, với tấm lòng từ bi thường hiện ra cứu giúp người lương thiện tai qua nạn khỏi, phù hộ phụ nữ và trẻ con. Đặt biệt người Phúc Kiến thường thờ Quan Âm Bồ Tát vì truyền thuyết ngài đã xuất hiện tại Phổ Đà sơn, một ngọn núi ở hải đảo, ngoài khơi tỉnh này.
Thất Phủ miếu được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa (Quyết định số 152 QĐ/BT, ngày 25/1/1994). 

Khởi thủy, chùa Phước Hậu chỉ là một chiếc am tranh. Thỉnh thoảng có một vài thiền sư vãng du đến rồi đi. Mãi đến năm 1894, ông Hương cả làng Đông Hậu là Lê Văn Gồng vốn lòng mộ đạo, vận động thiện nam tín nữ trong làng xây dựng một ngôi chùa sườn gỗ, mái ngói âm dương, vách ván, nền gạch. Ngôi chùa này là một dạng chùa làng nên được đặt tên là chùa Đông Hậu. Đến năm 1910, ông Hương cả Lê Văn Gồng mất, con gái ông là bà Lê Thị Huỳnh và phật tử địa phương đã thỉnh Hoà thượng Hoằng Chỉnh ở chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi) vào trụ trì. Hoà thượng Hoằng Chỉnh đã đổi hiệu chùa Đông Hậu thành Phước Hậu cho thích hợp hơn. Hòa thượng Hoằng Chỉnh là một cao tăng nên hoằng dương một thời gian thì thiền môn vào quy cũ, tăng ni tín đồ đến quy y thọ giới mỗI ngày một đông.

 Năm 1939, Hoà thượng Hoằng Chỉnh viên tịch nên đến năm 1942 bổn đạo thỉnh Hòa thượng Khánh Anh từ chùa Long An (Đồng Đế - Trà Ôn) về trụ trì chùa Phước Hậu. Hòa thượng Khánh Anh quê tại Quảng Ngãi vào Nam hành đạo từ mấy mươi năm trước. Ngài là một cao tăng có nhiều đệ tử tài đức.

Năm 1961, do thời gian, chùa Phước Hậu bị xuống cấp. Lúc bấy giờ Hoà thượng Khánh Anh đang làm Thượng Thủ Giáo hội Tăng Gìa toàn quốc, Hoà thượng chuẩn bị trùng tu chùa Phước Hậu thì viên tịch.
Hòa thượng Thiện Hoa kế thế trụ trì chùa Phước Hậu và bắt đầu xây dựng lại ngôi chùa. Tuy danh nghĩa là trụ trì nhưng Hoà thượng Thiện Hoa là Viện phó, rồI Viện Trưởng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nên phải giao chùa Phước Hậu cho Hòa thượng Thích Hòan Phú xây dựng tháp Đa Bảo thờ xá lợi đức Phật Thích Ca và các vị tổ sư tiền bốI hữu công. Ngoài ra, Thượng tọa Hoàn Phú còn xây dựng nhiều công trình xung quanh chùa Phước Hậu.
Chùa Phước Hậu hiện nay gồm nhiều công trình: chính điện, trung điện, hậu tổ, tàng kinh các, hệ thống bảo tháp … Trừ chính điện là công trình xây năm 1962, bằng vật liệu hiện đại như bê tông, xi măng, gạch ngói, gỗ,... theo mô hình kiến trúc kết hợp Đông phương và Tây phương. Còn các công trình khác là các bộ phận của ngôi chùa cũ, có từ năm 1894, tất nhiên có sửa chữa bồI bổ.
Chính điện chùa Phước Hậu hình chữ “sơn”, nhìn xuống dòng sông Ba Sác (một nhánh của sông Hậu). Mặt tiền chùa xây theo kiểu cổ lầu, giữa trang trí mô hình ngôi tháp bảy tầng cao chót vót. NộI điện rộng rải trang trí đơn giản, nền lót gạch bông, lại có nhiều cửa ra vào nên trông trống trảI. Bàn thờ giữa trang trí tượng đức Phật Thích Ca dạng đang tọa thiền dướI gốc bồ đề. Tầng dướI là tượng Thái tử Tất Đạt Đa sơ sinh và bộ tượng Tây Phương Tam Thánh: Di Đà, Quan Âm và Thế Chí. Ưu thế của mô hình này là cùng lúc có thể chứa hàng trăm người hành lễ, hai bên tả hữu ban có hai bàn thờ đa số là tượng của chùa Đông Hậu cũ còn để lại như tượng Tiêu Diện Đại Sĩ, Hộ pháp Di Đà, Địa Tạng, Chuẩn Đề và “Thập lục La Hán”, bằng gỗ hoặc bằng gốm Cây Mai (Chợ Lớn) .
Chùa Phước Hậu được xây dựng theo mô hình hiện đại, nhưng lại là ngôi chùa có rất nhiều câu đối. NộI dung các câu đối này đều ca tụng đức Phật vá các vị Bồ Tát, ca tụng địa phương theo quan niệm “địa linh nhân kiệt”, ca tụng đức độ của các vị tổ sư tiền bốI hoặc lòng hảo tâm chùa các tín đồ mộ đạo.
            Một câu đối ca tụng lòng từ bi của đức Phật Di Đà như sau
             “Như thị ngã văn, cảm ứng tùy tâm, thành tắc hữu.
             Nhĩ thời Phật thuyết, viên thông nhập đạo diệu ư vô”
             (Ta từng nghe rằng cảm ứng tùy tâm, thành ắt có.
            Bấy giờ Phật thuyết, viên thông nhập đạo, diệu mà không)
            Một câu đối ý nghĩa thâm trầm:
            Phật cảnh u huyền, như vân quảI sơn đầu, hành đáo sơn đầu, vân cánh viên.
            Thiền cơ hạo đảng, tự nguyệt phù thủy diện, bác khai thủy diện, nguyệt hoàn thâm.
            (Cảnh vật u huyền, như đám mây treo đỉnh núi nhưng người leo đến đỉnh núi thì mây lại xa.
            Mái thiền rộng lớn, giống bóng trăng trên mặt nước nhưng khi khuấy động mặt nước thì trăng càng sâu).
            Một câu đối mang nộI dung tiến bộ:
            Phước địa kiến pháp trường, đảo đảo thần quyền trừ ủy mị.
            Hậu cơ huy Phật nhật, thủ tiêu ma chương diệt tà mê.
            (Phước địa dựng pháp trường, đảo đảo thần quyền trừ ủy mị.
            Hậu cơ soi Phật nhật, thủ tiêu ma chương diệt tà mê.

 Phước Hậu cổ tự là tổ đình Phật giáo dòng Lâm Tế (Chúc Thánh). Dòng phật giáo này từ Hội An vào Quảng Ngãi rồi vào Trà Ôn. So với các thiền phái khác thì thiền phái Lâm Tế chi nhánh Chúc Thánh đến Vĩnh Long khá muộn nhưng dòng thiền này đào tạo rất nhiều tăng ni tài đức trong giai đoạn chấn hưng và giai đoạn thống nhất Phật giáo. Riêng trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc, chùa Phước Hậu là nơi nuôi chứa cán bộ cách mạng, ngay trong lúc khó khăn nguy hiểm nhất. Nhiều tu sĩ tu học ở chùa, đã tuân lời dạy dỗ của các vị Hòa thượng nghe theo lời kêu gọi của Tổ Quốc, đã “cởi áo cà sa, khoác áo chiến bào” và có vị hy sinh trên chiến trường, đến ngày hòa bình không trở về ngôi chùa cũ.

 Chùa Phước Hậu, ở ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình (ngang thị trấn Trà Ôn ngày nay) đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử cách mạng ngày 25 tháng 01 năm 1994 (Quyết Định số 152 QĐ ngày 25/1/ 1994).


Theo Đại Nam nhất thống chí, chùa Tiên Châu do Hoà thượng Huỳnh Đức Hội “khai sơn”. Hòa thượng đức Hội có pháp danh Tánh Minh, đời thứ 39 phái Lâm Tế dòng Liễu Quán. Qua pháp danh, chúng ta biết Hoà Thượng Đức Hội là đệ tử của Hòa thượng Đạo Thành, người đã khai sáng chùa Khánh Long (Biên Hòa) và chùa Hội Sơn (Thủ Đức). Do đó, có thể suy luận Hoà thượng Đức Hội là người vùng Biên Hòa – Gia Định. Ngài là vị chủ trì đời thứ ba của chùa Hội Sơn và đến xây dựng chùa Tiên Châu.

 Cũng theo Đại Nam nhất thống chí, chùa Tiên Châu ở cù lao sông Tiền thuộc làng Bình Lương và An Thành (nay là ấp Bình Lương, xã An Bình huyện Long Hồ, cách thị xã Vĩnh Long khoảng một cây số nhưng phải qua sông Cổ Chiên). Tên chính thức của chùa Tiên Châu là Di Đà Tự (Tiên Châu Di Đà Tự) vì chùa này thờ phật Di Đà, giáo chủ cỏi Tây Phương cực lạc. Theo truyền thuyết hai làng Bình Lương và An Thành mặc dù cách nơi đô hội không xa nhưng không khí tĩnh mịch, cây cốI tốt tươi. Tại nơi đây có xóm chài lướI, cửa nhà thưa thớt. Những đêm trăng thanh gió mát, thỉnh thoảng có tiên nữ xuống trần tắm rửa. Do đó, bãi sông này được đặt tên là Bãi Tiên (Tiên Châu) hay bãi Bích Trân. Vùng đất này lại có nhiều rạch lớn, rạch nhỏ, ghe thuyền có thể đi tắt qua lại nên còn tên là bãi Bát Tân (có nghĩa là đi bốn phương tám hướng). Chùa Di Đà ở tại thắng cảnh đẹp như xứ lụa Tô Châu nên còn có tên là chùa Tô Châu.

 Sau khi Hòa Thượng Đức Hội viên tịch, có Hòa Thượng Tế Triệt tức Giác Nguyên ở chùa Sắc Tứ Từ Ân (Gia Định) đến hành đạo. Một thời gian sau, Hòa Thượng Tế Triệt về khai sáng chùa Tân Long ở Cao Lãnh, các đệ tử của ngài tiếp tục sự nghiệp hoằng dương Phật pháp.

Mãi đến cuốI thế kỷ thứ 19, các vị sư ở chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho) qua hành đạo. Giai đoạn này chùa Di Đà đã bị xuống cấp nên tín đồ Phật tử đã trùng tu tái thiết lại ngôi chùa vào năm Kỷ Hợi (1899). Từ đó ngôi chùa có tên chính thức là Tiên Châu Tự, còn danh hiệu Tiên Châu Di Đà tự gần như đi vào dĩ vãng. Di Đà Tự là một đại già lam, bãi Tiên là một thắng cảnh. Do đó, từ xưa đến nay có nhiều tài tử giai nhân đến viếng cảnh, ngâm vịnh.

            Nhà thơ Nguyễn Hữu Đức có bài thơ vịnh Bãi Tiên như sau:

            Tiên Châu giăng trước Vĩnh Long thành
            Đây rộn rịp nhiều đó vắng tanh
            Khuất nửa cỏ cây nhà trắng trắng
            Chia hai trờI nước liễu xanh xanh
            Cảnh người ngày tháng ba thằng mục
            Chùa Phật hôm mai một tiếng kình
            Danh lợi vì đây lòng chẳng tưởng
            Bốn mùa phong cảnh có ai tranh.

Hiện nay cảnh vật nơi đây đã có nhiều đổi thay. Xung quanh chùa Tiên Châu hiện nay trở thành khu lao động, cửa nhà san sát.

Chùa Tiên Châu hiện giữ được quy mô năm Kỷ Hợi (1899), gồm bốn nóc: tiền đường, chánh điện, trung đường và hậu tổ. Các khu vực vừa kể thường làm theo kiểu tứ trụ, được nớI rộng theo chiều ngang dọc nhờ các kèo đấm kèo quyết. Bộ giàn trò bằng gỗ quý, mái ngói âm dương, xung quanh đóng vách bổ kho. Nội điện chùa Tiên Châu được trang trí đẹp đẽ. Giữa tứ trụ là một khánh thờ, bên trong tôn trí một pho tượng phật Di Đà bằng đất sét khổng lồ. Hai bên khánh thờ có câu đối sơn mài, khắc dòng chữ:

            Phật nhật tăng huy vĩnh thùy vạn cổ
            Pháp luân thường chuyển biến thập phương

 Dưới tượng Di Đà vừa kể là bộ tượng Tam Thế tượng Thích Ca tọa thiền, Thích Ca sơ sinh. Phía sau, đâu lưng với tượng Di Đà là tượng Di Lặc cũng to lớn đặc biệt.

Hai bên vách hông là khánh thờ thần Già Lam, khánh thờ Tổ sư Bồ Đề Lạt Ma, Thập Điện Minh Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, Địa Tạng, Chuẩn Đề, Hộ Pháp, Tiêu Diện Đại Sĩ. Chùa có một bộ bao lam chạm Thập Bát La Hán, hai bộ chạm hoa điểu khá tinh tế.

 Trung Đường và nhà tổ là nơi thờ các vị Tổ sư Tiền bốI và Thiện nam, Tín nữ đã quá vãng. Đây cũng là nơi tiếp khách nên treo rất nhiều tranh khuyến thiện và những câu đối có ý nghĩa thâm trầm:

            Mộ cổ thành chung, cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách
            Kinh thanh Phật hiệu, hoán hồi khổ hải mộng mê nhân.
            (Sáng trống chiều chuông, cảnh tỉnh khách say dòng danh lợi
            LờI kinh hiệu Phật, đổi thay người mộng mê trong biển khổ)

 Trong một thế kỷ nay, chùa Tiên Châu được sửa đổi nhiều lần mà lần sửa đổi quan trọng nhất là xây dựng mặt tiền vào năm 1960. Lần xây dựng này dùng toàn vật liệu hiện đại. Giữa là một căn nhà lầu có năm ngọn tháp trong tôn trí tượng phật Thích Ca, nhưng phía trước có ba chữ “Tiên Châu Tự” và một câu đối ca tụng. Hai gian bên làm theo kiểu cổ lầu, trong tôn trí tượng Thiện Hữu và Ác Hữu, cũng có hoành phi, câu đối ca tụng.

Chùa Tiên Châu được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1994 (Quyết định số 3211 QĐ, ngày 12/12/1994).

Khoảng năm 1754, sau khi năm họ: Mai, Hồ, Mạc, Võ, Đoàn và nhiều lưu dân khác khai phá thành lập thôn Long Thanh thì ngôi đình làng này xây cất tại vàm Bùng Binh, ấp Hưng Long. Ngôi đình đầu tiên chỉ cất tạm bằng cây lá.

 Năm 1844, ông Nguyễn Văn Khiêm, một người hảo tâm trong làng thấy vị trí ngôi đình này không thuận lợi nên cúng một sở đất sát bờ sông Long Hồ và đề nghị dời ngôi đình về đây. Ngôi đình thứ nhì cũng chỉ bằng cây gỗ, gạch ngói, mặc dù quy mô có khá hơn ngôi đình trước. Tiếp theo, vào ngày 19 tháng 11 năm Tự Đức thứ năm (mồng tám tháng giêng năm 1853) đình Long Thanh được cấp sắc Bổn cảnh Thành Hoàng chi Thần, mỹ tự Quảng hậu Chánh trực Hựu thiện Đôn ngưng chi Thần, tương tự như các nơi khác.

Ảnh Đình Long Thanh

 

 Mãi đến năm 1913, nhờ sự đóng góp to lớn của bà Nguyễn Thị Mai, đình Long Thanh được tái thiết toàn bộ và chính thức đổi hiệu là Long Thanh miếu võ. Nhìn tổng thể, đình Long Thanh có nhiều nóc. Giữa là chính tẩm phía sau là nhà khách. Phía trước là võ quy và võ ca. Phía bên tả là nhà bếp. Chính tẩm làm theo kiểu tứ trụ, có tám kèo đấm và tám kèo quyết. Còn võ ca, võ quy hoặc nhà khách cũng như thế hoặc ba gian hai chái. Nhìn chung khu vực nào cũng rộng, có thể chứa vài ba trăm người cùng một lúc.

Trước sân đình có đàn thờ Thần Nông, hai miếu thờ thần Bạch Hổ và Ngũ Hành Nương Nương. Trong chính tẩm là nơi đặt khánh thờ thần Thành Hoàng và khánh thờ Tả Hữu Ban liệt vị. Trước khánh thờ thần Thành Hoàng là hương án Hội Đồng. Trước khánh thờ Tả Hữu Ban là hương án thờ thần Bạch Mã và thầnThái Giám. Có thể nói ít đình nào nộI điện được trang hoàng với nhiều bao lam, hoành phi, câu đối, long trụ... với nét chạm tinh tế, sơn thếp rực rỡ như nơi đây. Các hương án, khánh thờ, đồ tự khí cũng như thế. Đặc biệt, trong số các loại vừa kể có bức hoành khắc bốn chữ “ Long Thanh miếu võ” rất đẹp, được đem đi triển lãm và được huy chương đồng tại hội chợ các nước thuộc địa năm 1922, tại Marseille (Pháp).

 Hàng năm, tại đình Long Thanh có hai ngày lễ lớn: lễ Hạ Điền ngày 14 và 15 tháng ba âm lịch và lễ Thượng Điền ngày 16 và 17 tháng 10 âm lịch. Lễ Hạ Điền có quy mô trọng thể hơn lễ Thượng Điền. Trong ngày lễ này đình Long Thanh thu hút đông đảo bà con ở địa phương và các nơi về tham dự. Đặc biệt, đình Long Thanh hiện còn lưu giữ được những nghi lễ truyền thống như lễ tế Túc Yết, Chánh Tế, tế Tiền Hiền, Hậu Hiền, xây chầu, đại bộI, hồi chầu. Bài văn tế đình, gốc của ông Lê Quang Nguyên, nguyên là Tuần Phủ Hà Tiên (thời Tự Đức) đặt. Nay còn sử dụng.

 Đình Long Thanh được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhận là di tích cấp quốc gia ngày 25 tháng 3 năm 1991 (Quyết định số 457 QĐ ngày 25/3/1991). Địa chỉ đình Long Thanh hiện nay ở Khóm B, Phường 5, thị xã Vĩnh Long. Cách trung tâm thị xã khoảng ba cây số, bên bờ sông Long Hồ.

Hình ảnh Du lịch Vĩnh Long
Thông tin Cần biết
Bản đồ ranh giới hành chính tỉnh

Bản đồ địa giới hành chính tỉnh Vĩnh Long tỷ lệ 1:300.000

Web site các đơn vị trong tỉnh

Số lượt truy cập
Tra cứu các Cơ sở dữ liệu Tra cứu các Cơ sở dữ liệu

Văn bản quy phạm pháp luật Chính phủ - Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Hệ thống thư điện tử tỉnh Vĩnh Long

Tra cứu danh bạ điện thoại & email cán bộ, công chức các sở ban ngành tỉnh và huyện thị tỉnh Vĩnh Long

Tìm hiểu về Du lịch tỉnh Vĩnh Long

Tập ảnh đặc trưng về tỉnh Vĩnh Long

CƠ SỞ DỮ LIỆU TT KHCN

Tra cứu thông tin Khoa học và công nghệ